phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến đƣợc trình bày theo ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Xây dựng và đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học chủ đề Phƣơng trình vô tỉ Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số quan điểm về tự học Tự học là một vấn đề có tính truyền thống và tính phổ biến không chỉ ở nƣớc ta mà còn ở nhiều nƣớc khác trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gƣơng sáng về tự học, Ngƣời đã từng khuyên phải biết tự động học tập, tìm đủ mọi cách mà học.
Theo Ngƣời “về cách học phải lấy tự học làm cốt”. Trên thế giới và Việt Nam có nhiều quan niệm về tự học: 1. Quan niệm về tự học trên thế giới Theo quan điểm của nhà tâm lý học N.ARubakin thì: Tự tìm lấy kiến thức–có nghĩa là tự học. Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài ngƣời thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể [14, tr.
Cuốn “Phƣơng pháp dạy và học hiệu quả” của tác giả Cark Rogers – một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học ngƣời Mỹ đã giải đáp cho học sinh câu hỏi “học cái gì và học nhƣ thế nào”? Câu hỏi “dạy cái gì và dạy nhƣ thế nào” cũng đƣơ ̣c giải đáp [13, tr. Năm 2008, Adam Khoo chứng minh đƣơ ̣c khả năng trí tuệ tìềm ẩn và sự thông minh sáng tạo của con ngƣời vƣơ ̣t xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thƣờng đƣơ ̣c nghe tới [6, tr. Quan điểm về tự học ở Việt Nam Theo cố GS. Nguyễn Văn Đạo (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã có một vài suy nghĩ chung về vấn đề tự học: “Tự học là công việc suốt cả cuộc đời mỗi ngƣời.
Số thời gian dành cho việc học với sự giúp đỡ của ngƣời thầy là rất ít, chỉ chiếm khoảng 1/4 của một đời ngƣời. Thời gian còn lại chủ yếu là dành cho việc tự học, cho lao động sáng tạo. Ngay cả trong giai đoạn đi học, 6 z việc tự học luôn luôn có vai trò đặc biệt quan trọng. Những ngƣời biết tự học, năng động, sáng tạo trong quá trình đi học là những ngƣời có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này”.
TS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học – là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (nhƣ tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. Cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng , một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiếp nhận, thể hiện và làm phong phú tƣ tƣởng, sự nghiệp giáo dục của Ngƣời trong lí luận và thực tiễn. Ông chỉ rõ: “phƣơng pháp giáo dục không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủ thuật trong truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà còn là con đƣờng để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu chứ không phải là bắt buộc trí nhớ làm việc một cách máy móc, chỉ biết ghi rồi nói lại” [18]. Theo từ điển Giáo dục học-NXB từ điển Bách khoa 2001: “Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành…” [10, tr 67].
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học nhƣ sau: Tự học là quá trình cá nhân học sinh tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định. Nhƣ vậy, tự học là một bộ phận của học hay nói cách khác học hàm chứa tự học. Và tự học không có nghĩa chỉ là việc học ngoài giờ lên lớp, mà tự học ở đây còn là hoạt động học diễn ra trên lớp dƣới sự hƣớng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của ngƣời thầy, ngƣời học phải động não, tìm tòi, phát hiện, 7 z phân tích, khái quát để chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng chính tƣ duy của mình. Bởi vậy, học cần phải đƣợc diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy của thầy.
Mối quan hệ này có thể diễn ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tùy vào mức độ tự lực và trình độ của ngƣời học. Điều này cũng có nghĩa là kết quả tự học của ngƣời học không chỉ phụ thuộc vào trình độ, năng lực của ngƣời học, mà còn phụ thuộc vào khả năng, kinh nghiệm tổ chức, hƣớng dẫn việc học của ngƣời thầy. Nó cũng đƣơ ̣c hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của học sinh trong hệ thống tƣơng tác của hoạt động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của học sinh, phản ánh tính tự giác và nỗ lực của học sinh, phản ánh năng lực tổ chức và điều khiển của học sinh nhằ m đạt đƣơ ̣c kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với những nội dung học tập nhất định.
Tự học là con đƣờng tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con ngƣời trong quá trình học hỏi thƣờng xuyên của cả cuộc đời. Nhƣ vậy muốn nâng cao chất lƣợng học tập của học sinh chúng ta cần phải quan tâm đúng mức đến việc bồi dƣỡng kiến thức, nâng cao trình độ nghiệp vụ của ngƣời giáo viên đồng thời phải đặc biệt chú ý đến vị trí trung tâm của học sinh sinh trong hoạt động tập thể để làm sao khai thác triệt để những tiềm năng vốn có trong ngƣời học, phát huy tính tự giác, tích cực sáng tạo, chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức nhằm đào tạo nhân tài cho đất nƣớc, đáp ứng nhu cầu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Đặc trưng của hoạt động tự học Tự học là quá trình tự điều khiển, tự chiếm lĩnh tri thức (quá trình thu nhận, chế biến, xử lý, bảo quản và truyền đạt thông tin làm gia tăng sự hiểu biết của cá nhân) để học kỹ, nhớ lâu, hiểu sâu, vận dụng tốt. Hoạt động tự học xét về mặt cấu trúc bao gồm: - Động cơ: Là nhu cầu hứng thú thu hút học sinh vào quá trình học tập tích cực và duy trì tính tích cực đó trong quá trình học tập, làm cho học sinh thấy đƣợc ý nghĩa của việc học tập.
8 z - Định hƣớng: Là mục đích của học sinh để xác định và ý thức đƣợc hoạt động nhận thức của mình, nó trả lời câu hỏi: Học để làm gì? - Nội dung, phƣơng pháp: Là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chủ đạo cần chiếm lĩnh và các cách thức chiếm lĩnh chúng, nó trả lời cho câu hỏi: Học cái gì? Học nhƣ thế nào? - Năng lực học tập: Là những khả năng tập trung chú ý, năng lực trí tuệ và năng lực thực hành vốn có để phát huy trong quá trình tự học. - Năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá: Là khả năng tự đánh giá kết quả tự học của mình, làm cơ sở cho những hoạt động tiếp theo. Vai trò của tự học trong quá trình dạy học Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở bậc THPT nói riêng, giáo viên luôn giữ một vai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu đƣợc đó là sự tổ chức, điều khiển, hƣớng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh. Nhƣng thực tế cho thấy rằng, dù giáo viên có kiến thức uyên thâm đến đâu, phƣơng pháp giảng dạy hay đến mấy nhƣng học sinh không chịu đầu tƣ thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch và phƣơng pháp học tập hợp lý, không tự giác tích cực trong học tập.
thì việc học tập không đạt kết quả cao đƣợc. Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong quá trình học tập của học sinh. Tự học là yếu tố quyết định chất lƣợng và hiệu quả của hoạt động học tập. Các mức độ của tự học Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [16] nêu lên đặc điểm của ngƣời tự học đó là tự mình động não suy nghĩ, say mê, kiên trì, không ngại khó ngại khổ để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó.
Tác giả cũng chia tự học thành hai mức đó là tự học có hƣớng dẫn và tự học hoàn toàn rồi đƣa ra các dấu hiệu để phân biệt hai mức này cụ thể là: 9 z Mức 1: Tự học có hƣớng dẫn (self learning with guidance) nghĩa là có quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò dƣới dạng phản ánh, giải đáp thắc mắc, làm bài, chấm bài nhƣng trò phải chủ động. Mức 2: Tự học hoàn toàn (self learning) có nghĩa là không có sự trợ giúp của ngƣời thầy, ngƣời học tự vƣợt khó khăn trong học tập bằng cách động não, tự mình làm thử, tự mình quan sát, cũng có thể gặp ngƣời khác để trao đổi. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chủ yếu xin đề cập đến mức độ tự học thứ nhất và chỉ kết hợp với một phần của mức độ tự học thứ hai vì chúng tôi nhận thấy tự học của học sinh trung học phổ thông là một hoạt động ở trình độ thấp với những hình thức đơn giản, không giống với quá trình nhận thức của các nhà khoa học. Thực chất việc tự học của học sinh trung học phổ thông chủ yếu là nghiên cứu những bài học cụ thể trong sách giáo khoa, những tƣ liệu có liên quan để đối chiếu, so sánh, mở rộng.
Đây chính là những bƣớc đi đầu tiên, cơ bản tạo tiền đề cho các em tiếp xúc với các hoạt động nghiên cứu ở mức độ cao hơn.