CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THCS 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về tự học Tự học đã được áp dụng từ rất sớm, ngay khi giáo dục chưa trở thành một lĩnh vực khoa học chính thống. Ngay từ những năm trước Công nguyên, những nhà học cổ đại của Hy Lạp như Xôcrat (469 – 390 TCN), Arixtốt (384 – 322 TCN) đã đặc biệt coi trọng việc khuyến khích tính tích cực và khả năng tự học của học sinh, nhằm tránh tình trạng họ trở nên lệ thuộc và giúp họ tự mình khám phá sự thật.
Tương tự, ở phương Đông cũng có nhiều nhà giáo dục vĩ đại như Khổng Tử (551 – 479 TCN), Mạnh Tử (372 – 289 TCN), Tuân Tử (khoảng 289 – 238 TCN) … đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của tự học và tự rèn luyện. Những nguyên tắc này đã tạo nên nền tảng ban đầu cho sự phát triển của tự học, tự giáo dục trong tương lai theo Nguyễn Cảnh Toàn và cộng sự (1998). Lịch sử khoa học – nghệ thuật thế giới cũng đã ghi nhận những người nổi tiếng trong lĩnh vực tự học như nhà khoa học Archimedes, tác giả của hang ngàn phát minh khoa học có ích cho loài người, và văn hào Maxim Gorki, người coi cuộc sống như “những trường đại học của tôi”…. Trong thời kỳ phong kiến, cả ở phương Đông và phương Tây, vai trò của người thầy được coi trọng hơn cả trong hệ thống giáo dục.
Chính vì thế mà giá trị của tự học thường bị xem nhẹ. Đến thời kỳ Phục Hưng ở Châu Âu, ý tưởng về việc khẳng định quyền tự do và khai thác tiềm năng sáng tạo của học sinh đã trở thành một ý tưởng phổ biến được nhiều triết gia và nhà giáo dục ủng hộ. Tự học đã nổi lên như một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực giáo dục người lớn kể từ những năm 1960 (Hiemstra, 1978). Qua nhiều năm, có nhiều nghiên cứu đáng kể đã đóng góp vào việc hiểu biết sự hình thành và tiến triển về năng lực tự học.
Có một loạt các khái niệm phản ánh tính đa diện của tự học. Knowles (1975) mô tả tự học như một quá trình trong đó cá nhân tự chủ tiên phong, độc lập hoặc có 7 sự trợ giúp từ người khác, nhằm xác định nhu cầu học tập của mình, đặt ra mục tiêu học tập, tìm kiếm các tài liệu học tập phù hợp, triển khai các chiến lược học tập hiệu quả và đánh giá kết quả của nỗ lực học tập của mình. Candy (1991) nhấn mạnh khía cạnh tự do theo đuổi của tự học, tôn trọng tự chủ cá nhân và tự quản lý là những nguyên tắc cơ bản. Long (1994) tập trung vào sự định hướng mục tiêu đối với việc tiếp thu kiến thức, giải quyết vấn đề và phát triển kỹ năng.
Houle (1993) coi tự học như một hình thức tự chủ, nhấn mạnh rằng cá nhân chịu trách nhiệm thiết kế và thực hiện các hoạt động giáo dục của riêng mình. Piskurich (1993) định hình tự học như một thiết kế đào tạo cho phép người học nắm vững tài liệu theo tốc độ riêng mà không cần sự hướng dẫn của giảng viên. Guglielmino (2008) trình bày tự học như một phản ứng chịu kích thích bởi sự mới mẻ, thách thức hoặc vấn đề gặp phải trong môi trường học tập. Trong hệ thống lý thuyết về tự học, những người tự học được miêu tả là những cá nhân tham gia học tập vì mục tiêu phát triển cá nhân (Merriam et al.
Họ chịu trách nhiệm chính trong việc lên kế hoạch, thực hiện và đánh giá quá trình học tập của mình (Hiemstra Roger, 2018). Những người học tự chủ thể hiện khả năng dự đoán nhu cầu học tập của riêng mình và đề ra mục tiêu riêng (Spencer & Jordan, 1999). Họ có khả năng xác định, đánh giá và lựa chọn các tài liệu học tập và chiến lược phù hợp. Hơn nữa, những người học tự thường tích cực theo dõi và đánh giá tiến trình của mình (Lieberman & Linn, 1991).
Nghiên cứu thực nghiệm cung cấp bằng chứng đáng kể về những hiệu ứng tích cực của tự học. Artis và Harris (2007) phát hiện mối liên hệ tích cực giữa tự học và hiệu suất tự học khi gia tăng liên kết với việc tiết kiệm chi phí trong các chương trình đào tạo và phát triển. Theo Durr (1992), tham gia vào việc tự học đã chứng minh cho xu hướng nâng cao tiềm năng, kỹ năng tư duy phản biện và đặt câu hỏi, tăng cường sự tự tin và khả năng giải quyết vấn đề, thúc đẩy chia sẻ kiến thức và phát triển mạng lưới quan hệ với người khác (Rowland & Volet, 1996), tự học tạo 8 nên sự cam kết tình cảm mạnh mẽ (Cho & Kwon, 2005), và mang lại cảm giác ý nghĩa trong công việc. Tổng thể, hệ thống lý luận về tự học nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học như một quy trình học tập độc lập và tự chủ.
Các nghiên cứu không ngừng chứng minh những kết quả tích cực liên quan đến tự học, bao gồm tăng cường hiệu suất, tiết kiệm chi phí, nâng cao kỹ năng tư duy phản biện, cải thiện khả năng giải quyết vấn đề, chia sẻ kiến thức và cảm giác ý nghĩa trong công việc. Cùng với sự phát triển của lĩnh vực giáo dục người lớn, sẽ cần có thêm nghiên cứu để khám phá các yếu tố tạo điều kiện hay cản trở việc tự học, cũng như tác động của nó đối với các nhóm học viên đa dạng về độ tuổi và các ngữ cảnh khác nhau. Việc tiếp tục nghiên cứu về tự học sẽ góp phần vào việc phát triển các đề xuất và phương pháp hiệu quả thúc đẩy tự học suốt đời và sự phát triển chuyên môn. Như vậy, có thể thấy rằng các nghiên cứu đi rất sâu vào việc tự học, chỉ ra các khía cạnh đặc biệt của nó, liên kết với động lực nội tại người học.
Tuy nhiên vẫn còn rất hạn chế nguồn tài liệu phân tích về chủ đề này ở lứa tuổi học sinh THCS. Nghiên cứu về tự học trong bối cảnh công dân toàn cầu Báo cáo của Delors tại UNESCO (1996) đánh dấu sự bắt đầu cuộc tranh luận về việc học các năng lực trong thế kỷ 21, với việc học để hiểu, học để làm, học để trở thành và học để sống chung sống là những cột mốc quan trọng của việc học. Khái niệm năng lực thế kỷ 21 được đặc trưng bởi sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức và nhu cầu học suốt đời để học viên có thể thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng và liên tục của nền kinh tế xã hội (Delors & Jacques, 1996). Lee phát biểu (2017): “Thời đại phát triển đã tạo ra những yêu cầu thay đổi về bộ kỹ năng của người học thế kỷ 21, chẳng hạn như khả năng tư duy phản biện và sáng tạo, khả năng tự học và học chung với các tác động, khả năng học hình thức hóa và phi hình thức hóa và khả năng cả cạnh tranh và hợp tác”.
Đồng thời, tác giả bài viết trên cũng đề cập: “Ở Singpore, chuẩn đầu ra của học sinh thế kỷ 21 tập trung 9 vào những phẩm chất chính như “tự tin” “biết tự học” “đóng góp tích cực” và “công dân biết lo nghĩ” theo điều C2015”. Trong bài viết của tác giả Moon & Koo (2011) về việc nghiên cứu sâu sách giáo khoa Hàn Quốc và tầm quan trọng tự học cho thấy: “… năng lực công dân toàn cầu đã phát triển trong những năm 1990 và 2000. Đặc biệt hơn nữa, nội dung sách giáo khoa đã đổi qua định hướng tập trung vào người học, khuyến khích học sinh tự học”. Cho thấy thực trạng giáo dục các nước đang biến đổi để phát triển mạnh mẽ các năng lực hướng người học thành công dân toàn cầu, trong đó có năng lực tự học.
Việc Hàn Quốc chủ động đưa những nội dung các năng lực này vào sách giáo khoa và đồng thời khuyến khích sự tự học ở học sinh từ những năm 1990 và 2000 cho thấy tầm nhìn vô cùng xa của các nhà lãnh đạo. Họ đặt nền móng phát triển năng lực tự học cho học sinh tự học từ nhỏ để sau này có thể phát triển chúng một cách vô cùng dễ dàng. Và không quá bất ngờ khi thành quả gặt hái được chính là liên tục đứng vị trí đầu nhiều nằm liền trong bảng xếp hạng 20 nền giáo dục tốt nhất thế giới của NJ MED. Đồng thời, xếp vị trí thứ 2 chỉ sau Hà Lan trong bảng xếp hạng các nước có nền giáo dục tốt nhất thế giới do công ty giáo dục PEARSON thẩm định năm 2012.
Nhìn chung, có thể thấy bối cảnh xã hội đang hướng đến việc toàn cầu hóa một cách chóng mặt. Khi kiến thức liên tục xuất hiện, sự đổi mới diễn ra quá nhanh, chúng ta có xu hướng sẽ chung sống với nhiều người, nhiều nền văn hóa khác nhau, trở thành một công dân toàn cầu. Và để chuẩn bị cho các thế hệ mai sau sẵn sàng trong tiến trình hội nhập, tự học là năng lực không thể thiếu. Những nước phát triển đã nhận ra điều này và khai thác vô cùng triệt để giúp dẫn đến các thành công về giáo dục ngày hôm nay của họ.
Nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho học sinh THCS Nghiên cứu của Dignath và Büttner (2008) đã tiến hành phân tích tổng hợp 49 nghiên cứu bậc tiểu học và 35 nghiên cứu bậc THCS nhằm điều tra những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến kết quả học tập, việc sử dụng các chiến lược học tập và 10 động lực học tập của học sinh trong bối cảnh phát triển năng lực tự học tại trường. Nghiên cứu đã thể hiện một số các kết luận quan trọng: Hiệu suất của các chương trình phát triển NLTH có thể được triển khai hiệu quả ở cả hai bậc tiểu học và THCS; hiệu suất cao hơn khi các chương trình đào tạo được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu thay vì bởi giáo viên cơ hữu; hiệu suất cũng cao hơn khi các chương trình đào tạo được tiến hành trong phạm vi môn toán so với môn đọc/viết hoặc các môn khác; hiệu suất còn phụ thuộc vào cơ sở lý thuyết mà chương trình đào tạo dựa trên, cũng như loại chiến lược được hướng dẫn. Từ nghiên cứu trên có thể nhận thấy rằng lứa tuổi THCS là hoàn toàn phù hợp để phát triển năng lực tự học của các em học sinh.