CHƯƠNG 1. LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 1. Những công trình nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm HĐTN với bản chất là hoạt động GD trong nhà trường được rất nhiều quốc gia quan tâm và vận dụng vào GD.
Nó có thể là những hoạt động chính khóa nằm trong chương trình GD, hoặc là những hoạt động có tính chất ngoại khóa, bổ trợ. Những HĐTN này có thể được tồn tại dưới các thuật ngữ khác nhau như: Hoạt động GD tổng hợp, HĐTN sáng tạo, hoạt động GD ngoài trời, hoạt động GD đặc biệt.nhưng chung quy lại nó chính là hoạt động mang tính GD nhằm phát triển kinh nghiệm sống cho học sinh, nhờ HĐTN học sinh có cơ hội được trải nghiệm thực tế, vận dụng những hiểu biết của bản thân để tương tác hiệu quả với môi trường thực tiễn. Khi bàn về HĐTN có nhiều quan điểm khác nhau, bao gồm các quan niệm dưới đây: - Những nghiên cứu về HĐTN dưới góc độ là hình thức học tập hiệu quả: Đứng ở góc độ này, các học giả quan niệm rằng “HĐTN là quá trình học tập bắt nguồn từ những trải nghiệm, có quá trình phát triển với thời gian lâu dài, chịu ảnh hưởng bởi các quan điểm triết học”. Trước tiên, phải kể đến tư tưởng của các triết gia lỗi lạc như Socrate (384-322 TCN), Aristoteles (450-325 TCN), Platon (427-347 TCN) [76; 3- 13].
Các quan điểm trên trở thành khởi nguồn cho các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về HĐTN. Điển hình là sự kế thừa và phát triển bởi các nhà khoa học lỗi lạc như Lênin, J.Dewey, Lewin và D. Tác giả đầu tiên tiếp cận đến DH thông qua con đường trải nghiệm đó chính là Aristoteles với mô hình lớp học thiên nhiên. Trường học theo kiểu thiên nhiên của Aristoteles đó chính là những cánh đồng trống đã cho người học cơ hội được vận động, được thử, được trải nghiệm qua tất cả những bài học cần lĩnh hội.
Môi trường học tự nhiên đêm đến cho người học sự sảng khoái, sự hấp dẫn bởi chính họ đi chiêm nghiệm và khẳng định bài học thông qua hành động thực tiễn. Với cách học này, ông đã là người tiên phong cho quan điểm học thông qua hành, ông được xếp vào trường phái của chủ nghĩa kinh nghiệm, ông có quan điểm rất nổi tiếng về vấn đề này đó là: “Với những gì chúng ta cần phải học trước khi làm, chúng ta sẽ học thông qua hành” [67], [78]. Trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm quan niệm rằng hành động trải nghiệm là quan trọng, kiến thức con người thu nhận được xuất phát từ trải nghiệm của các giác quan [81], [77]. 9 Quan niệm này lại nảy sinh tranh luận gay gắt với các nhà duy lí, bởi lẽ các nhà duy lí lại khẳng định vai trò to lớn của lí trí đối với lĩnh hội tri thức, họ cho rằng nếu thông tin chỉ thu được từ hoạt động của các giác quan là chưa đủ độ tin cậy.
Trước tình hình đó, năm 1787 Immanuel Kant đã kết thúc cuộc tranh luận bằng việc đưa ra khẳng định cả lí trí và kinh nghiệm của cảm giác đều có vai trò to lớn đối với sự tiến bộ của người học, cả 2 nhân tố đều có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng qua lại lẫn nhau đối với hoạt động học tập [14]. Quan điểm trên chính là kim chỉ nam soi lối cho các nhà GD trong việc tổ chức HĐ học tập cho HS một cách hiệu quả, gắn liền với thực tiễn và gắn liền với quá trình nhận thức thế giới khách quan. Phát biểu này cho thấy sự trải nghiệm có một vai trò to lớn đối với HĐ nhận thức của con người. Trong lý thuyết hoạt động của nhà tâm lý học nổi tiếng Leonchev, ông cho rằng: Tâm lý hình thành thông qua hoạt động [21], từ quan niệm của Leonchev đã có rất nhiều nhà khoa học tìm hiểu về các vấn đề lí luận và các vấn đề thực tiễn GD liên quan đến con đường nhận thức bằng hành động.
Lý thuyết tương tác xã hội của L. Vưgotxki quan niệm rằng học sinh học tập trong một lớp học luôn cần có các hoạt động khám phá cùng nhau, hay gọi là học tập có trợ giúp thông qua hoạt động. Lý thuyết kiến tạo của J. Piaget cho rằng con đường học tập muốn có kết quả thì người học cần tích cực, chủ động tạo ra cho mình tri thức hay gọi là kiến tạo tri thức.
Khi nghiên cứu về quá trình nhận thức và bản chất của trí tuệ, ông cho rằng trải nghiệm sẽ tạo ra trí thông minh, thông qua việc tương tác xã hội trẻ sẽ lĩnh hội được tri thức một cách chân thực và đầy đủ nhất [47]. Học tập trải nghiệm là con đường mà cá nhân tự vận động để lĩnh hội tri thức cho mình bằng cách tự hành động và tương tác với bạn học để cùng nhau phát triển. Học thuyết này cho rằng tri thức là vô cùng vô tận, nó là hình ảnh chủ quan của loài người về cuộc sống, kiến tạo tri thức chính là cá nhân tự xây dựng mô hình về thế giới trong đầu óc bằng con đường chiêm nghiệm. Trải nghiệm để lĩnh hội tri thức và hoàn thành một cách thuận lợi các yêu cầu học tập đặt ra [75].
Dewey (1859-1952) với tác phẩm Kinh nghiệm và GD được dịch với rất nhiều thứ tiếng. Tác phẩm khẳng định rằng GD chịu sự chi phối rất lớn của kinh nghiệm, tuy 10 nhiên không phải kinh nghiệm nào cũng có ý nghĩa GD mà chỉ những kinh nghiệm có khả năngtác động đến sự phát triển về mặt trí tuệ và mặt đạo đức mới là những kinh nghiệm có giá trị [12]. Dewey là thành viên của chủ nghĩa coi trọng thực tiễn, do đó ông xem trọng việc chuẩn bị trước cho cuộc sống bằng con đường học tập nhất là học từ thực tiễn, cùng với việc vạch ra các hạn chế của GD nhà trường đã tạo ra làn sóng nghiên cứu các hình thức học tập thiên về trải nghiệm thực tiễn. Với việc sử dụng mô hình DH thiên về thực hiện hành động và hướng dẫn thực nghiệm học tập tác giả Kurt Lewin (1890-1947) đã chỉ rõ kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng đối với việc học.
Từ khẳng định này, ông nổ lực nghiên cứu để thiết kế các hoạt động học tập có hiệu quả đối với nhận thức của HS theo hướng trải nghiệm [65]. Kế thừa những nghiên cứu của Piaget, Dewey, Lewin, David A Kolb trong lý thuyết học tập từ việc trải nghiệm đã khẳng định: “Học từ trải nghiệm là một quá trình theo đó kiến thức, NL được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm, học tập là quá trình tạo ra tri thức thông qua sự chuyển đổi kinh nghiệm”. Vì vậy, trong học tập và GD người học có tự lực hoạt động thì mới biến tri thức, kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm của bản thân mình [65]. Thành tựu của D.Kolb đã được khẳng định giá trị và vận dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực, nhất là ở lĩnh vực GD.
Với các nghiên cứu của ông đã tạo ra những cơ sở vững chắc và gợi mở cho nhiều nhà khoa học thực hiện nghiên cứu sâu về HĐTN trong nhà trường [68], [70],[73; 185-195], [74; 36-41], [77], …. Tuy nhiên những nghiên cứu trên đây của David Kolb chủ yếu hướng về học thông qua trải nghiệm như một con đường học tập. Lí thuyết về học tập kinh nghiệm cũng là nguồn cơn để các nhà nghiên cứu vận dụng thiết kế lĩnh vực mới trong GD đó là STEM, đây cũng là những đóng góp to lớn cho sự đổi mới trong GD.Е là nhà khoa học quan tâm rất lớn đến HĐTN, các nghiên cứu về HĐTN của tác giả này thiên về bản chất của HĐTN và phân loại các loại trải nghiệm, Тlegenova cho rằng hoạt động tác động qua lại giữa con người với thế giới chính là sự trải nghiệm. Nó mang đến cho con người tri thức về thế giới một cách chân thực và hiệu quả nhất [66; 304-315].
Một số nhà nghiên cứu sư phạm (Y. Skatkin…) quan niệm về trải nghiệm theo góc độ là các hoạt động thực hành, trải nghiệm là tiến hành các hoạt động, hành động với đối tượng để đi đến kết quả cuối cùng trong đào tạo, thể hiện trong kết quả đạt được chính là mức độ phát triển của sản phẩm đào tạo. Xuất phát từ quan niệm này, M. Skatkin đưa ra nhận định: “trải nghiệm được hiểu là sự thực hành trong quá trình đào 11 tạo và GD” [80; 285-293].Е mô tả sự khác biệt giữa trải nghiệm và thực hành.
Theo tác giả, trải nghiệm có nội hàm lớn hơn thực hành vì trải nghiệm chính là sự kiểm chứng về tri thức, nguồn gốc của tri thức đến từ trải nghiệm cuộc sống của loài người do đó chính trải nghiệm là công cụ để khám phá thế giới [66; 304-315]. Như vậy, tất cả những nghiên cứu của các tác giả trên đều hướng đến khẳng định rằng trong học tập, phương thức trải nghiệm sẽ giúp học sinh đi đến tri thức một cách chân thực và hiệu quả nhất. Học sinh muốn học có hiệu quả cần tích cực tham gia vào các hoạt động, cần chủ động mày mò, tìm tòi, khám phá từ chính những sự vật hiện tượng trong cuộc sống. Nhóm tác giả do Cao Cự Giác (2017) đứng đầu nghiên cứu về vai trò của HĐTN và bản chất của HĐTN trong DH [64; 180-184].
Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng HĐTN ảnh hưởng đến sự phát triển của tư duy. Herman Ebbinghaus – nhà vật lý học người Đức, người đi tiên phong trong nghiên cứu thực nghiệm và trí nhớ đã chỉ ra rằng nếu tỷ lệ tiếp thu của bạn (từ một bài giảng) là 100% vào ngày thứ nhất thì tới ngày thứ hai, con số ấy sẽ giảm đi đáng kể và cứ thế đến khi chỉ còn vài phần vào ngày cuối cùng của tháng. Tác giả William Glasser cũng đứng ở góc độ đề cao HĐTN với sự phát triển tư duy, ông quan niệm rằng, chúng ta chỉ học được 10% từ việc đọc, 20% từ việc nghe (từ người khác). Trong khi đó, ông còn khẳng định 80% kiến thức chúng ta tiếp thu được là thông qua việc trải nghiệm thực tế [72].
Những năm sau đó, nghiên cứu về HĐTN dưới góc độ là phương thức học tập ngày càng phong phú. Những nghiên cứu đó xem trọng trải nghiệm trong học tập, nhờ có trải nghiệm đã tác động mạnh mẽ đến kết quả học tập của HS, làm chất lượng DH tăng lên, học tập trải nghiệm đề cao vai trò nỗ lực của cá nhân và NL người học.