Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển năng lực thực hành thí nghiệm hóa học cho học sinh trong dạy học hóa học phổ thông (22 trang) Chương 2: Phát triển năng lực thực hành thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học phần vô cơ cho học sinh lớp 10 THPT (59 trang) Chương 3: Thực nghiệm sư phạm (23 trang). CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM HÓA HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Năm 2005, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Luật Giáo dục “Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, năng lực thực hành, say mê học tập và ý chí vươn lên” [17]. Đến năm 2013, quan niệm trên đã được thể hiện rõ hơn trong nghị quyết số 29 -NQ/TW của Trung ương Đảng về đổi mới giáo dục căn bản, toàn diện: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.
Học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tiễn” [2]. Trong những năm gần đây, đã có nhiều luận văn nghiên cứu về NL THTN như: Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Tươi (2015) nghiên cứu về “Sử dụng thí nghiệm hóa học phát triển năng lực thực hành cho học sinh thông qua dạy học chương Nitơ - photpho hóa học lớp 11” [21]. Luận văn này nghiên cứu cơ sở lí luận về đổi mới PPDH theo hướng phát triển NL cho HS, các NL cần phát triển trong dạy học hóa học. Điểm nổi bật của luận văn là đề ra các PPDH tích cực như PPDH theo góc, PPDH hợp tác, PPDH bàn tay nặn bột, PPDH sử dụng bài tập thực nghiệm… kết hợp với PP THTN theo hướng tích cực để phát triển NL THTN cho HS lớp 11 THPT.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thu Thảo (2016) với đề tài “Hình thành và phát triển năng lực thực hành hoá học cho học sinh lớp 8 thông qua dạy học chương hiđro – nước” [19]. Tương tự như luận văn của Lê Thị Tươi, luận văn này cũng đề xuất về biện pháp kết hợp các PPDH tích cực với THTN nhưng dùng để phát triển cho HS lớp 8 THCS. 7 Đến năm 2017, luận án tiến sĩ của Vũ Tiến Tình nghiên cứu về “Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học một số khái niệm hóa học cơ bản ở trường THCS nhằm phát triển năng lực thực nghiệm cho học sinh” [22]. Luận án này đề cập đến sự phát triển NL thực nghiệm hóa học cho HS thông qua sử dụng phương tiện trực quan.
Tác giả đưa ra một số biện pháp phát triển và đánh giá NL THTN hóa học cho HS THCS như: chỉ dẫn, kiểm tra từng HS khi thực hiện các bài thực hành; cải tiến TN theo hướng đơn giản để HS đều làm TN; hướng dẫn HS làm THTN ở nhà; tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm; thiết kế bộ công cụ đánh giá NL THTN hóa học. Tuy nhiên, luận án này chỉ nghiên cứu nhiều về lí luận mà chưa nói nhiều về biện pháp phát triển NL THTN cho HS. Các tác giả Lí Huy Hoàng, Cao Cự Giác, Lê Hải Đăng cũng đã viết bài báo khoa học về “Xây dựng và sử dụng bài tập thực nghiệm nhằm phát triển năng lực thực hành thí nghiệm hóa học cho sinh viên ở trường đại học sư phạm” [10] được đăng trong tạp chí khoa học của Đại học Đồng Tháp số 26 năm 2017. Cách xây dựng và sử dụng bài tập thực nghiệm trong bài báo khoa học này rất đa dạng, phong phú.
Tuy nhiên, các bài tập thực nghiệm này chưa giúp HS phát triển toàn diện các NL THTN do HS không được trực tiếp làm THTN mà chỉ làm lí thuyết hoặc quan sát GV thực hành. Từ việc nghiên cứu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy những năm gần đây có nhiều tác giả nghiên cứu về sự phát triển NL của HS, sinh viên. Tuy nhiên, vẫn còn rất ít luận văn, luận án nghiên cứu biện pháp để phát triển toàn diện NL THTN cho HS lớp 10 THPT. Chính vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này với mong muốn góp một phần công sức của mình vào việc nâng cao NL THTN hóa học ở trường phổ thông.
Năng lực và năng lực thực hành thí nghiệm hóa học của học sinh THPT 1. Khái niệm năng lực Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên (2003), NL được hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; là phẩm chất tâm sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [14]. Trong tài liệu “Lí luận cơ bản một số kĩ thuật và phương pháp dạy và học tích cực” của Bộ Giáo dục - Đào tạo (2010) đưa ra khái niệm “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm, cũng như sự sẵn sàng hành động” [4]. Trên cơ sở phân tích khái niệm NL, mục tiêu chương trình THPT và đặc điểm tâm sinh lí HS phổ thông, luận án Tiến sĩ Giáo dục học (2011) tác giả Trần Thị Thu Huệ nhận định: “Năng lực cần đạt của học sinh THPT là tổ hợp nhiều kĩ năng và giá trị được cá nhân thể hiện mang lại kết quả cụ thể.
Theo đó, kĩ năng mà chúng ta nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận được chính là biểu hiện đang diễn ra của năng lực” [11]. Tuy vậy, trong Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI (2013) nhận định “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện NL và phẩm chất người học” [2]. Vì vậy, để việc giải thích khái niệm phù hợp với Nghị quyết, Bộ Giáo dục và Đào tạo [5] giải thích NL là một loại thuộc tính với sự mở rộng nghĩa của từ này – bao hàm không chỉ các đặc tính bẩm sinh mà cả những đặc tính hình thành và phát triển nhờ quá trình học tập, rèn luyện của con người. Sau khi tìm hiểu, chúng tôi đưa ra quan điểm năng lực là khả năng thực hiện,khả năng biết làm gắn liền với ý thức và thái độ, kiến thức và kĩ năng đúng.
Phân loại năng lực a) Năng lực chung Trong tài liệu hội thảo “Những nội dung chính của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới” [6] của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định: “Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần để sống, học tập và làm việc”. NL này được hình thành và phát triển liên quan đến nhiều môn học. Chương trình giáo dục cấp THPT nhằm phát triển nhân cách công dân trên cơ sở phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần; duy trì, tăng cường và định hình các phẩm chất và NL đã hình thành ở cấp THCS; có kiến thức, kĩ năng phổ thông cơ bản được định hướng theo lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với năng khiếu và sở thích; phát triển NL cá nhân để lực chọn hướng phát triển, tiếp tục học lên hoặc bước vào cuộc sống lao động. Theo“Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới sau 2017” [6], các chuyên gia định hướng NL các NL chung gồm : NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Tác giả Lan Phương [16] đã nhận định mỗi NL chung cần: - Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng. - Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp. - Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người. b) Năng lực chuyên môn Từ tháng 7/2017, chương trình phổ thông tổng thể đưa ra khái niệm “Năng lực chuyên môn (của môn học nào) là năng lực mà môn học (đó) có ưu thế hình thành và phát triển (do đặc điểm của môn học đó).
Năng lực chuyên môn của môn học cũng có thể là một năng lực chung” [6]. 10 Còn trong “Tài liệu tập huấn Chương trình dạy học cho tương lai” [12], NL chuyên môn sẽ tái hiện, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự kiện, các hiện tượng trong không gian và thời gian. Giữa hai loại NL chung và NL chuyên môn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, góp phần bổ sung cho nhau nên ranh giới giữa chúng cũng mang tính tương đối. Theo quan điểm của chương trình dạy học định hướng phát triển NL [5], NL chuyên môn của môn Hóa học là NL mà môn Hóa học chiếm ưu thế hình thành và phát triển bao gồm 5 NL sau: 1.
NL sử dụng ngôn ngữ hóa học 2. NL thực hành hóa học 3. NL tính toán 4. NL giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua môn Hóa học 5.
NL vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống. Năng lực thực hành thí nghiệm hóa học 1. Khái niệm năng lực thực hành thí nghiệm Theo từ điển Tiếng Việt “Năng lực thực hành thí nghiệm là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” [14]. Trên cơ sở đó, trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, chúng tôi quan niệm: Năng lực thực hành thí nghiệm là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng thực nghiệm cùng với thái độ tích cực và hứng thú để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn một cách phù hợp và có hiệu quả.
Cấu trúc năng lực thực hành thí nghiệm Cấu trúc NL THTN có thể xem như cấu trúc của NL thực nghiệm nhưng với phạm vi hẹp hơn là NL THTN chỉ giới hạn trong việc HS tiến hành THTN. Theo tài liệu “Chương trình tiếp cận năng lực và đánh giá năng lực người học” của Nguyễn Thị Lan Phương (chủ biên) [16] đã xây dựng cấu trúc NL thực nghiệm như sau: 11 NL THTN Xác định TN Thiết kế phương Tiến hành TN: Xử lí, phân tích, cần thực hiện án TN: - chuẩn bị nguyên liệu, báo cáo kết quả và đề xuất - phân tích và xác thiết bị, dụng cụ, hóa và rút ra kết phương án TN: định phương án TN. chất tiến hành TN.