Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Năng lực và năng lực tạo lập văn bản 1. Năng lực a) Khái niệm NL được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Ở góc độ tâm lý học, nhiều tác giả có quan niệm như sau: NL là khả năng của một người trong việc thực hiện một loạt các nhiệm vụ tinh thần hoặc thể chất một cách hiệu quả.
Nó bao gồm những kỹ năng nhận thức, cảm xúc và hành vi giúp cá nhân đạt được các mục tiêu khác nhau và thích nghi với các tình huống khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt, GS. Hoàng Phê có giải thích khái niệm này theo hai ý như sau: “Thứ nhất, NL là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Thứ hai, NL là một phẩm chất tâm lí, sinh lí tạo cho con người có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao” [23,tr.
Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 3) thì định nghĩa: “NL là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó, NL gắn với những phẩm chất về trí nhớ tính nhạy cảm trí tuệ tính cách của cá nhân” [23, tr. Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong cuốn tài liệu Xây dựng CT GDPT theo hướng tiếp cận NL đưa ra định nghĩa như sau: “NL có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn nhân lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như kinh nghiệm của HS, những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [39, tr. Tiếp thu quan niệm về NL của các nước phát triển, CT GDPT của Việt Nam 2018 đã xác định: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tổ chức sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [2, tr.
9 Như vây, NL có thể được hiểu một cách đơn giản nhất chính là: khả năng con người hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, gắn với một loại hoạt động cụ thể nào đó. NL được coi là sự kết hợp của vốn tri thức, các kĩ năng và thái độ của một cá nhân hay tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả. NL mang dấu ấn cá nhân, thể hiện tính chủ quan trong hành động. Song, NL không phải là yếu tố bẩm sinh mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người như: đời sống xã hội, môi trường giáo dục và đặc biệt là nhờ vào sự nỗ lực, cố gắng học tập và nhờ những trải nghiệm, kinh nghiệm mà con người đã tích lũy trong hoạt động thực tiễn.
b) Phân loại Trong cuốn Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn trung học phổ thông, tác giả Đỗ Ngọc Thống cùng các tác giả đã khẳng định: việc phân loại NL là một vấn đề rất phức tạp, kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Nhìn vào chương trình thiết kế theo NL của các nước có thể thấy hai loại chính: NL chung (general competence) và NL cụ thể, chuyên biệt (specific competence). NL chung là cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Loại NL này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học [35].
Tiếp thu quan niệm và cách về phân loại về NL của các nước phát triển, CT GDPT tổng thể của Việt Nam đã xác định có hai NL lớn: NL cốt lõi (là NL cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả) và NL đặc biệt (là những năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kĩ năng sống,… nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người). Trong đó, NL cốt lõi (NL chung) là năng lực được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục hình thành, phát triển như: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo. NL chuyên môn là NL được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục như: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất. Với môn Ngữ văn, NL chuyên môn bao gồm: NL văn học và NL ngôn ngữ 1.
Năng lực tạo lập văn bản a. Khái niệm văn bản VB là đối tượng của việc dạy học đọc hiểu và cũng là đối tượng của dạy học tạo lập VB. Trước hết, khái niệm VB có nhiều cách trình bày khác nhau. Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam - tập IV, khái niệm VB được phát biểu như sau: “VB là một chỉnh thể trên câu, gồm một chuỗi các câu, đoạn văn được cấu tạo theo quy tắc của một ngôn ngữ, tạo nên thông báo có tính hệ thống” [23, tr.
Trong Từ điển tiếng Việt của GS. Hoàng Phê, khái niệm VB được phát biểu theo hai ý như sau: Thứ nhất, VB là “bản viết hoặc in mang nội dung nhất định, thường để 10 lưu lại”. Thứ hai, VB là “chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn” [22 tr. Trong bài viết Văn bản và việc phân chia các loại văn bản, nhóm tác giả Dương Thị Hồng Hiếu, Nguyễn Thị Hồng Nam coi VB như một cấu trúc “được tạo bởi sự đan kết các yếu tố từ ngữ và kí hiệu được tổ chức một cách có hệ thống nhằm một mục đích nhất định phục vụ chủ ý của người tạo lập” [8, tr.
Trong thời gian gần đây, khái niệm VB không chỉ được hiểu thông thường là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ mà ở phạm vi rộng hơn đó còn là sản phẩm có sự kết hợp giữa kí hiệu ngôn ngữ và các loại kí hiệu khác (kí hiệu hình ảnh, kí hiệu âm thanh,…) với các hình thức thể hiện đa dạng. Năng lực tạo lập văn bản Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong chuyên luận của mình đã cho rằng: “NL tạo lập VB là khả năng biết viết, biết tổ chức, xây dựng một VB hoàn chỉnh đúng quy cách và có ý nghĩa. Muốn có NL tạo lập phải biết cách tạo lập, tức là nắm được cách viết một loại VB nào đó,. Trong cuốn Đề cương bài giảng tạo lập văn bản ở trường phổ thông, tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy đã nhấn mạnh ý nghĩa của NL tạo lập VB: “NL tạo lập VB là một nhân tố quan trọng giúp con người tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội ở các tình huống giao tiếp khác nhau” [40, tr.
Trên cơ sở khái niệm NL đã trình bày, chúng tôi cho rằng, NL tạo lập VB là khả năng huy động các kiến thức (hiểu biết về chủ đề của VB, cách thức tạo lập VB, cách thức sử dụng ngôn ngữ,.), kỹ năng tạo lập VB để tạo ra một VB trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đáp ứng được mục tiêu đề ra. NL tạo lập VB bao gồm khả năng sử dụng ngôn ngữ, cấu trúc câu và các phương tiện ngữ pháp khác để diễn đạt ý tưởng một cách chính xác, truyền tải thông tin và thu hút sự chú ý của người đọc. NL tạo lập VB cũng bao gồm khả năng phát triển các ý tưởng trong bài viết, sắp xếp chúng một cách logic và tổ chức chúng thành một bài viết có tổng thể hợp lý và dễ đọc. Ngoài ra, NL tạo lập VB cũng bao gồm khả năng sử dụng các phương tiện khác nhau để hỗ trợ truyền đạt thông tin, ví dụ như sử dụng hình ảnh, biểu đồ hay đồ thị.
Có nhiều quan niệm về các thành tố của NL tạo lập VB, trong đề tài này chúng tôi nhất trí với cách phân giải cấu trúc NL tạo lập VB của tác giả Chu Thanh Hòa trong bài viết Phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận của HS trung học phổ thông qua sử dụng hồ sơ viết trên Tạp chí Giáo dục, số 438. Sơ đồ cấu trúc năng lực tạo lập văn bản 1. Văn bản thông tin và năng lực tạo lập văn bản thông tin 1. Văn bản thông tin a.
Khái niệm Ở nước ngoài, khái niệm VBTT đã được nhắc đến trong bài viết “Reading and writing information text in the primary grades” của tác giả Duke & Bennet - Armistead, đó là một tập hợp con của danh mục phi hư cấu lớn hơn. Mục đích chính của nó là để thông báo cho người đọc về thế giới tự nhiên và xã hội. Tác giả cho rằng, mục đích chính của VBTT là truyền tải thông tin về thế giới tự nhiên và xã hội, điển hình là từ những người được cho là biết thông tin đến những người được cho là không biết. Duke đã từng đưa ra định nghĩa về VBTT (informational text/ informative text) như sau: “Mục đích chính của VBTT là truyền tải thông tin về thế giới tự nhiên và xã hội, điển hình là từ những người được cho là biết thông tin đến những người được cho là không biết” [44, tr.
Từ định nghĩa trên, Duke cho rằng VB tiểu sử, VB miêu tả các quy trình hay hướng dẫn các thao tác đều là VB phi hư cấu, không phải là VBTT vì mục đích chính của chúng là truyền tải thông tin về cuộc đời của một cá nhân hoặc hướng dẫn thao tác chứ không phải chuyển tải thông tin về một điều gì đó. 12 Ở Việt Nam, khái niệm VBTT chỉ mới xuất hiện trong môn Ngữ văn CT GDPT 2018. “VBTT là loại VB chủ yếu dùng để cung cấp thông tin. Trong đời sống, có nhiều loại VBTT khác nhau như: báo cáo, bản tin, thông báo, thư từ, diễn văn, tiểu luận,.74] Tác giả Đỗ Ngọc Thống cho rằng: “VBTT là VB chủ yếu dùng để cung cấp thông tin về con người, sự vật, hiện tượng hoặc hướng dẫn thực hiện hoạt động dựa trên các số liệu, sự kiện khách quan và kiến thức khoa học.