phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chƣơng 2:Một số biện pháp sƣ phạm nhằm góp phần phát triển năng lực phán đoán cho học sinh thông qua dạy học hình học ở trƣờng THCS. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.Tính phức hợp của tƣ duy 1.Khái niệm tư duy Tƣ duy là một trong những biểu hiện tâm lý bậc cao, là quá trình hoạt động nhận thức của cá thể, đƣợc đặc trƣng bởi sự phản ánh hiện thực một cách khái quát và gián tiếp [2]. Tƣ duy là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều nghiên cứu liên nghành.Triết học nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và tƣ duy, khả năng và con đƣờng nhận thức thế giới bằng quá trình tƣ duy. Logic hình thức nghiên cứu các hình thức cơ bản của tƣ duy (khái niệm, phán đoán, suy luận). Xã hội học nghiên cứu quá trình phát triển lịch sử của tƣ duy trong sự phụ thuộc vào cấu trúc xã hội.
Sinh lý học nghiên cứu cơ chế thần kinh của các thao tác tƣ duy. Điều khiển học nghiên cứu tƣ duy nhƣ là một quá trình thông tin, xác định cái những cái chung và cái khác biệt trong hoạt động của máy tính và tƣ duy của con ngƣời. Tâm lý học nghiên cứu tƣ duy nhƣ một hoạt động nhận thức, phân loại các dạng tƣ duy trên cơ sở mức độ khái quát và đặc điểm sử dụng các công cụ, phƣơng tiện trong quá trình tƣ duy, những cái mới đối với chủ thể , mức độ tích cực của chủ thể, mức độ phản ánh hiện thực một cách phù hợp, chính xác nhờ tƣ duy [2]. Ngƣời ta phân ra các loại tƣ duy nhƣ sau:Tƣ duy ngôn ngữ logic, tƣ duy trực quan hình ảnh và tƣ duy trực quan hành động.
Cũng có thể phân ra tƣ duy lý luận và tƣ duy thực tiễn, tƣ duy khoa học và tƣ duy kinh nghiệm; tƣ duy phân tích logic và tƣ duy trực giác; tƣ duy hiện thực và tƣ duy dựa trên trải nghiệm cảm xúc chủ quan thoát ly hiện thực; tƣ duy có chủ định tƣ duy và tƣ duy không chủ định [2]. Theo Vũ Dũng và các quan điểm tâm lý học hiện đại: Tƣ duy con ngƣời đƣợc đặc trƣng bởi sự thống nhất của ý thức và vô thức. Xúc cảm đóng vai trò rất lớn trong hoạt động tƣ duy, nó đảm bảo cho quá trình điều chỉnh, tìm kiếm cách giải quyết nhiệm vụ.Việc nghiên cứu quá trình hình thành mục 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đích là một phần quan trọng trong tâm lý học tƣ duy và tâm lý học nhân cách. Ngƣời ta nghiên cứu những quá trình chuyển những yêu cầu bên ngoài thành mục đích, sự lựa chọn một trong những yêu cầu đƣợc đƣa ra, mối liên hệ giữa việc hình thành mục đích có chủ định và không chủ định, động thái thời giancủa quá trình hình thành mục đích, quá trình chuyển những dự đoán vô thức thành những mục đích có ý thức, quá trình phân tách các mục đích trung gian.
Tƣ duy đƣợc nghiên cứu nhƣ là sự giải thích các phản ứng, sự hiểu ngôn ngữ, sự tác động nhóm và xung đột. Tƣ duy còn là một phần và đối tƣợng của tự ý thức.Một số đặc điểm của tư duy Bohm,D(1990); De Bono,E(1985) và Kahneman,D(2011) đã phát hiện rấ t nhiề u đă ̣c điể m thú vi ̣của tƣ duy. Theo các tác giả này thì quá trình tƣ duy vừa là một quá trình mang tính sinh lý học thần kinh, vừa là một quá trình mang trính trí tuệ vừa mang tính cảm xúc. Quá trình này là một phần trong hệ thống tƣ duy của chúng ta.
Toàn bộ hệ thống tƣ duy của chúng ta đang vận hành thông qua một tập hợp các phản xạ. Tƣ duy là một hệ thống tự tổ chức, mọi sự sáng tạo, cải tiến nếu vẫn nằm trong logic của hệ thống thì không thể thoát ra khỏi hệ thống đó. Khi chỉ sử dụng tƣ duy logic, chúng ta có thể cải tiến vấn đề, đề ra các giả thuyết và tìm kiếm dữ liệu để kiểm tra nó, thế nhƣng không tạo ra đƣợc điều gì thực sự mới. Hệ thống tƣ duy là một tập hợp hết sức tinh vi các phản xạ vô hạn về tiềm năng.
Một khi đã đƣợc nhớ thì ngay cả quá trình logic cũng là một tập hợp các phản xạ.Việc bảo vệ sự vững chắc của hệ thống là một phản xạ tự vệ giúp ngăn ngừa những bằng chứng làm nó yếu đi. Thói quen tƣ duy của chúng ta là đƣa ra các câu trả lời và các lời giải thích nhanh và hợp logic cho các vấn đề cần giải quyết.Trong trƣờng học hiện nay chúng ta thƣờng bị hối thúc phải có câu trả lời và đƣợc khen thƣởng nếu có câu trả lời đúng, vì vậy nếu không có câu trả lời đúng thì chúng phải đối diện với cảm giác khó chịu ở mức độ nào đó. Theo David Bohm: "Con ngƣời có thể bổ sung mãi mãi và cũng có thể 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉnh sửa những phản xạ của mình".Chúng ta đƣợc dạy tƣ duy theo cách mọi thứ phải đƣợc làm đứt đoạn, phân loại, bóc tách, cắt rời ra.Điều đó làm tƣ duy chúng ta lâm vào trạng thái hỗn độn.Do vậy bên trong hệ thống tƣ duy của chúng ta có một lỗi, đó là "lỗi hệ thống".Các vấn đề thƣờng xuyên nảy sinh bởi vì mọi ngƣời không theo dõi tƣ duy của mình. Quá trình quan sát tƣ duy của mình giúp ta loại bỏ những phản xạ tự vệ tiêu cực.
Việc quan sát đó giúp hệ thống tƣ duy có lỗi của chúng ta đƣợc nới lỏng ra, làm cho hệ thống này không còn vững chắc nữa, từ đó chúng ta có thể khắc phục đƣợc các lỗi hệ thống của nó [6]. Muốn tạo ra cái thực sự mới, con ngƣời cần thực hiện bƣớc nhảy của tƣ duy, suy đoán, thoát ra khỏi hệ thống cũ để có th ể quay lại khắc phục lỗi của chính hệ thống đó. Khi thực hiện bƣớc nhảy này, chúng ta không có và không cần sự chứng minh logic, mối liên hệ nhân quả cho nó. Những bƣớc nhảy của tƣ duy và các mẫu tƣ duy, các phản xạ đƣợc hình thành có chủ đích sẽ tạo nên tiền đề cần thiết của phán đoán sáng tạo.
Thực hành điều này thƣờng xuyên sẽ tạo nên các mẫu cho sự sáng tạo. Khi thực hiện điều này, chúng ta không kìm nén mà cho phép tồn tại một khoảng trống cho một tƣ duy mới mẻ không bị ràng buộc, cho phép tƣ duy có đƣợc một cuộc đối thoại. Chúng ta không coi hệ thống tƣ duy là một hệ thống vững chắc tuyệt đối mà không gì xâm nhập đƣợc [6]. Sự phán đoán, tri giác không phụ thuộc vào các phản xạ có điều kiện của tƣ duy tạo nên bƣớc nhảy đột biến của sự sáng tạo [8].
Phát triển các ký hiệu và hệ thống, tạo ra các mẫu không phải tự nhiên của tƣ duy cho phép chúng ta có thể thực hiện một cách sáng tạo những công việc đồ sộ và khó khăn. Các mẫu không phải là mẫu tự nhiên của tƣ duy bao gồm: quan điểm, nguyên lý, thói quen, công cụ, cấu trúc của tƣ duy. Các mẫu này đƣợc hình thành một cách có chủ đích là tiền đề, là sự tập dƣợt cho sự sáng tạo. Điều đó có đƣợc bằng cách nuôi dƣỡng các mẫu của tƣ duy sáng tạo mở, nuôi dƣỡng các câu hỏi là tiền đề cho sự sáng tạo [7].Điều này tạo nên nền tảng cho việc phát triển các kỹ năng tƣ duy.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quá trình dạy học hợp tác sử dụng các kỹ thuật tƣ duy của De Bono giúp ta hình thành cơ chế ngăn ngừa những phản xạ tự vệ tiêu cực, cho phép quan sát những mâu thuẫn, sự không mạch lạc của tƣ duy. Cho phép những phán đoán vƣợt ra bên ngoài hệ thống xảy ra. Bằ ng cách tác đ ộng vào các phản xạ để làm thay đổi quá trình tƣ du y.Việc chấp nhận và thƣ̣c hiê ̣n nh ững lựa chọn có thể loại trừ lẫn nhau của tƣ duy là một sự biểu hiện đúng đắn của tƣ duy hiệu quả. Tôn trọng tính tất yếu của tƣ duy là cần thiết, nhƣng không có nghĩa là loại trừ tính ngẫu nhiên của nó.
Cần phải có sự tự do vừa mang tính tập thể vừa mang tính cá nhân của tƣ duy. Khi đối thoại nhóm, các cá nhân cần phải đối thoại hợp tác, gạt bỏ việc quá đề cao cái tôi của mỗi cá nhân, loại bỏ cảm giác cái tôi của mỗi cá nhân bị tổn thƣơng khi tranh luận [6]. Chúng ta cũng không thể đào một cái giếng mới bằng cách khoét thật sâu cái giếng mà chúng ta đang có. Cú nhảy của tƣ duy cho phép chúng ta thoát ra khỏi những ý tƣởng và nhận thức đã đƣợc thiết lập để tìm ra những ý tƣởng mới.
Thoát ra khỏi hệ thống đang mắc lỗi của chính chúng ta và bƣớc vào một hệ thống mới [6]. Tính phức hợp của tư duy Theo Edgar Morin: Tính phức hợp là từ ngữ mang tính vấn đề chứ không phải là từ ngữ mang tính giải pháp. Tƣ duy phức hợp có ba đặc tính cốt yếu sau: Thứ nhất: Tính phức hợp được hiểu là những gì liên kết với nhau, đan dệt cùng nhau. Tính phức hợp không loại bỏ tính đơn giản, nó tích hợp trong mình tất thảy những gì làm cho nhận thức trở nên trật tự, tỏ tƣờng rạch ròi và chuẩn xác.
Tính phức hợp không đồng nhất với tính toàn vẹn. Tƣ duy phức hợp làm lộ diện những khớp nối liên hệ các lĩnh vực đã bị tƣ duy đơn giản chia tách tháo rời ra và che đậy những gì kết nối, tƣơng tác. Tƣ duy phức hợp mong muốn đạt đến một tri thức đa diện. Nhƣng nó chấp nhận ngay từ đầu 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rằng tính toàn vẹn là bất khả dĩ, chấp nhận nguyên lý bất toàn và bất định, chấp nhận mối liên kết giữa các thực thể mà tƣ duy đơn giản nghĩ rằng cần phải phân định.Chấp nhận tính phức hợp cũng là chấp nhận tính mâu thuẫn nội tại của tƣ duy.
Tính phức hợp không phải là chìa khóa để nhận biết vũ trụ mà chỉ là thách thức cần đối mặt. Tƣ duy phức hợp không phải là nhằm để né tránh hoặc thủ tiêu thách thức, mà là để giúp bộc lộ và vƣợt qua thách thức. Tƣ duy phức hợp chấp nhận tính đa chiều, chú trọng liên kết tri thức, thống nhất trong đa dạng. Thứ hai: Tính nhất quán và tính mở của tri thức luận.