Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triển năng lực nhận thức của HS THPT dưới sự trợ giúp của CNTT. Chương 2: Phát triển năng lực nhận thức và tư duy của HS THPT chuyên dưới sự trợ giúp của CNTT trong dạy học chương Nguyên tử - Hóa học 10. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 11 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ TƢ DUY CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Lịch sử nghiên cứu của vấn đề Ứng dụng CNTT trong dạy học là một mảng nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm của các GV, các nhà giáo dục học, thậm chí các học giả thuộc các chuyên ngành, lĩnh vực khác.
Có nhiều sáng kiến kinh nghiệm, bài báo, nghiên cứu khoa học, chuyên đề bồi dưỡng GV,.hướng tới ứng dụng CNTT và đã nêu được các luận điểm chung nhất, bao quát nhất về ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và bộ môn Hóa học nói riêng. VD: - “Vai trò của CNTT và truyền thông trong dạy học Hóa học” - Luận văn Thạc sỹ Giáo dục học - Giang Thành Trung - ĐHSP Hà Nội 2007 - “Ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học ở trường THCS” - ThS. Võ Tiến Dũng, CN. Nguyễn Phong - trường CĐSP Quảng Trị, 2008 - “Effective use of ICT in Science Education” - Peter Demkanin, Bob Kibble, Jari Lavonen, Josefa Guitart Mas, Jozefina Turlo.
- “ITC Integration in Chemistry” - Prof. Gilbert Oke Onwu, Dr. Salomon Tchameni Ngamo - African Virtual University. - “Tích cực hóa hoạt động nhận thức môn hóa học cho HS với sự hỗ trợ của CNTT (phần phi kim – hóa học 10)”- Luận văn thạc sĩ khoa học Giáo dục – Nguyễn Thị Ánh Đăng, ĐHSP Hà Nội, 2011.
Các đề tài đã đề cập đến đối tượng THCS và THPT nói chung, tuy nhiên chưa có đề tài nào đề cập đến đối tượng HS THPT chuyên. Do đó, hướng nghiên cứu mà chúng tôi chọn là một hướng nghiên cứu tương đối mới mẻ và thực tế. Nhận thức và tƣ duy 1. Khái niệm nhận thức Nhận thức trong phạm trù triết học có nghĩa là: sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, sự phản ánh đó không phải là hành động nhất thời, 12 z máy móc, đơn giản, thụ động mà là cả một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực, sáng tạo.
Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong, đó là từ nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác và biểu tượng) đến nhận thức lý tính (tư duy và tưởng tượng). Nhận thức cảm tính là khâu đầu tiên của quá trình nhận thức. Nhận thức cảm tính là sự phản ứng những thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng thông qua tri giác của các giác quan, biểu hiện ở 3 khía cạnh: cảm giác, tri giác và biểu tượng. Cảm giác: Là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức, nó phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật và hiện tượng.
Tri giác: Phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn và theo cấu trúc nhất định. Cảm giác và tri giác có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức. Nếu như cảm giác là hình thức nhận thức đầu tiên của con người thì tri giác là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh. Sự nhận thức cảm tính được thực hiện thông qua hình thức tri giác cao nhất, có tính chủ động tích cực, có mục đích đó là sự quan sát, đó chính là sự phản ánh sự vật, hiện tượng bằng nhận thức cảm tính Nhận thức lý tính bắt nguồn từ nhận thức cảm tính nó phản ánh hiện thực sâu sắc hơn, nó phản ánh mối liên hệ bản chất mang tính quy luật.
Nhận thức lý tính gồm tư duy và tưởng tượng. Tưởng tượng: Là một quá trình tâm lý phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có. Quy luật nhận thức là: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và trở về thực tiễn. Như vậy, trong khoa học giáo dục, ta có thể hiểu nhận thức chính là quá trình học tập, thu nhận kiến thức của con người trong cuộc sống, và kết quả của quá trình tiếp nhận đó.
Và một trong những con đường quan trọng nhất để bồi dưỡng nhận 13 z thức đó chính là thông qua giáo dục. Qua giáo dục, con người hình thành và phát triển năng lực nhận thức một cách khoa học và đúng đắn. Năng lực nhận thức Năng lực nhận thức được xác định là năng lực trí tuệ của con người, được biểu hiện dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhiều nhà tâm lý cho rằng, năng lực nhận thức được xác định như năng lực trí tuệ và được đo bằng chỉ số IQ.
Tuy nhiên, năng lực nhận thức được biểu hiện ở nhiều mặt, cụ thể là: - Mặt nhận thức: Như nhanh biết, nhanh hiểu, nhanh nhẹn, biết suy xét và tìm ra các quy luật trong các hiện tượng một các nhanh chóng. -Về khả năng tưởng tượng: óc tưởng tượng phong phú, hình dung ra được những hình ảnh và nội dung theo đúng điều người khác mô tả. - Qua hành động: Sự nhanh trí, tháo vát, linh hoạt, sáng tạo. - Qua phẩm chất: Óc tò mò, lòng say mê, hứng thú làm việc.
Do đó để đánh giá được năng lực nhận thức không những dựa vào chỉ số IQ mà còn cần kết hợp các chỉ số xác định năng lực khác của con người, như: EQ (chỉ số xúc cảm), CQ (chỉ số sáng tạo),. Khái niệm tư duy Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. Như vậy, tư duy là một quá trình tâm lý có sự tìm kiếm và phát hiện cái mới về chất một cách độc lập. Là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong.
Nét nổi bật của tư duy là tính "có vấn đề " tức trong hoàn cảnh có vấn đề tư duy được nảy sinh. Tư duy là mức độ lý tính nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính. Nó có khả năng phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng. Như vậy, tư duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức.
Nắm bắt được quá trình đó, GV sẽ hướng dẫn HS tư duy khoa học trong suốt quá trình học tập. Có thể chia ra làm ba loại tư duy cơ bản, phổ biến thường gặp trong học tập 14 z cũng như trong cuộc sống: đó là tư duy logic,tư duy biện chứng và tư duy hình tượng. Nếu xét về mức độ độc lập, người ta có thể chia tư duy thành các bậc sau: tư duy lệ thuộc, tư duy độc lập, tư duy phê phán 1. Các phẩm chất của tư duy - Tính định hướng: Ý thức được nhanh chóng và chính xác đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt được và con đường tối ưu để đạt được mục đích đó.
- Bề rộng: Có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác. - Độ sâu: Nắm vững ngày càng sâu sắc bản chất của các sự vật hiện tượng. - Tính linh hoạt: Nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hành động vào những tình huống khác nhau một cách sáng tạo. - Tính mềm dẻo: Thể hiện hoạt động tư duy được tiến hành theo các hướng xuôi và ngược chiều.
- Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện ra vấn đề, đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết được vấn đề. - Tính khái quát: Khi giải quyết một loạt vấn đề nào đó sẽ đưa ra được mô hình khái quát, trên cơ sở đó có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề tương tự cùng loại. Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh trung học phổ thông Phát triển năng lực nhận thức và tư duy thực chất là hình thành và phát triển năng lực lĩnh hội và vận dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo. Việc phát triển nhận thức và tư duy cho HS trước hết là giúp cho HS lĩnh hội và nắm vững kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành qua đó mà kiến thức HS thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động hơn.
Tư duy càng phát triển thì càng có nhiều khả năng lĩnh hội tri thức một cách nhanh chóng, sâu sắc và khả năng vận dụng tri thức càng linh hoạt, sáng tạo. Như vậy sự phát triển tư duy của HS được diễn ra trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức. Khi tư duy phát triển sẽ tạo ra một kĩ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương pháp chuẩn bị lâu dài cho HS hoạt động sáng tạo sau này. Hình thành và phát triển năng lực nhận thức được thực hiện thường xuyên, liên tục, có chiến lược, có hệ thống.
15 z Do đó trong hoạt động giảng dạy, người GV cần phải tập luyện cho HS và chính bản thân HS phải tự rèn luyện qua sự hướng dẫn của GV khả năng tư duy sáng tạo qua các khâu của quá trình dạy học. Từ hoạt động dạy học trên lớp thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập mà GV điều khiển hoạt động nhận thức của HS để giải quyết các vấn đề học tập được đưa ra. HS tham gia vào vấn đề này một cách tích cực sẽ nắm được cả kiến thức và phương pháp nhận thức đồng thời các thao tác tư duy cũng được rèn luyện. Hình thành và phát triển năng lực nhận thức và tư duy được rèn luyện với mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, đầy đủ trên mọi khía cạnh: + Rèn luyện năng lực quan sát + Phát triển ngôn ngữ + Phát triển trí nhớ và tưởng tượng + Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo, phương pháp nhận thức và tư duy.