Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Năng lực NL là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử, song trở nên phổ biến và được tập trung nghiên cứu bắt đầu từ những năm 70 thế kỉ XX với nhiều quan điểm tiếp cận và cách định nghĩa khác nhau, chẳng hạn “Năng lực là tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn”[11, tr.15-16]; “Năng lực được xây dựng dựa trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí” [12, tr 29-30]; “ Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội. và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [3, tr 54-55].
Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003) lại định nghĩa: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó” [23, tr. Tài liệu hội thảo chương trình GDPT tổng thể trong chương trình GDPT mới của Bộ GD&ĐT xếp NL vào phạm trù hoạt động khi giải thích:“Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [6, tr. Hệ thống NL trong chương trình được phân loại thành NL chung và NL đặc thù môn học.“NL chung là NL cơ bản, thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc.
Các hoạt động giáo dục với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và PT các NL chung của HS” [6, tr. Hệ thống những NL chung bao gồm: NL tự học; NL giải quyết vấn đề và sáng tạo; NL thẩm mĩ; NL thể chất; NL giao tiếp; NL hợp tác; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c NL tính toán; NL công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Còn “NL đặc thù môn học là NL mà môn học có ưu thế hình thành và phát triển. Một NL có thể là NL đặc thù của nhiều môn học khác nhau” [6, tr.
Dựa trên các quan niệm ở trên chúng tôi định nghĩa như sau: Năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả. Năng lực được bộc lộ thông qua các hoạt động hành động, công việc. Thông qua quá trình rèn luyện, học tập và thực hành NL ngày càng phát triển, hoàn thiện đảm bảo cho cá nhân đạt được hiệu quả cao trong một lĩnh vực cụ thể tương ứng với NL mà mình có. Từ các định nghĩa về năng lực, nhiều tác giả đề xuất mô hình cấu trúc năng lực dựa trên nguyên lý tảng băng gồm có ba thành tố chính: Hành động, suy nghĩ và tính sẵn sàng của người học (Hình 1.
“Hành động” chính là hành vi của người học mà chúng ta có thể quan sát được trong quá trình học tập. “Suy nghĩ” được tạo nên từ kiến thức, kỹ năng, thái độ, chuẩn giá trị, niềm tin, … Những đặc tính này có đặc điểm không quan sát được, nhưng thường được các nhà giáo dục đánh giá thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của người học (hành vi). Nguồn gốc để hình thành nên “suy nghĩ”, chính là xuất phát từ “tính sẵn sàng” được tạo thành bởi động cơ, phẩm chất, nét nhân cách của người học. Nói cách khác, “suy nghĩ” và “tính sẵn sàng” chính là điều kiện cần và đủ để tạo ra “hành động”.
Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực [21, tr.23] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Trong quá trình đào tạo, các nhà giáo dục đều nhận ra rằng, để đánh giá kết quả học tập của người học, chúng ta không chỉ đánh giá bề nổi - những gì người học thể hiện ra, mà còn phải tập trung khai thác các đặc điểm tiềm ẩn của người học (phần chìm). Xác định các năng lực chuyên biệt trong môn lịch sử. Có nhiều quan niệm khác nhau trong việc xây dựng chuẩn các kỹ năng chuyên biệt trong dạy học từng môn học ở trường phổ thông như: Xây dựng các năng lực chuyên biệt từ những năng lực chung (năng lực cốt lõi); xây dựng các năng lực chuyên biệt từ đặc thù kiến thức của bộ môn. Ở cách tiếp cận thứ nhất, chúng ta xác định các năng lực chung mà toàn bộ quá trình giáo dục ở trường phổ thông đều phải hướng tới để hình thành cho người học.
Sau đó, ở từng môn học cụ thể sẽ xác định sự thể hiện cụ thể của các năng lực chung trong môn học. Ở cách tiếp cận thứ hai, chúng ta dựa trên đặc thù nội dung, phương pháp nhận thức và vai trò của môn học đối với thực tiễn để đưa ra hệ thống năng lực cần hình thành cho học sinh. Ở đây chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận thứ nhất để xác định hệ thống năng lực cần hình thành, phát triển và là cơ sở để đánh giá kết quả học tập của các em trong dạy học bộ môn LS ở trường phổ thông. Đối với dạy học Lịch sử ở trường phổ thông, các năng chung sẽ được cụ thể hóa như bảng sau: Bảng 1.
Các năng lực chuyên biệt trong môn lịch sử STT Năng lực chung Biểu hiện trong môn Lịch sử I Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản than - Kỹ năng khai thác lược đồ, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, phim tư liệu để tìm kiếm nội dung lịch sử thông qua kênh hình. - Đọc và phát hiện kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa Lịch sử. - Khả năng tự tìm kiếm kiến thức lịch sử thông qua tài liệu 1 Năng lực tự học tham khảo. - Kỹ năng kết hợp đọc sách giáo khoa với nghe giảng với tự ghi chép.
- Khả năng trả lời câu hỏi và tự đặt câu hỏi - Khả năng tự hệ thống hóa kiến thức ôn tập, củng cố kiến thức Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c STT Năng lực chung Biểu hiện trong môn Lịch sử - Kỹ năng nhận thức và giải quyết một vấn đề lịch sử. - Khả năng vận dụng kiến thức lịch sử để làm bài tập lịch sử. - Kỹ năng đưa ra được cách thức câu trả lời cho các câu hỏi đã đặt ra. - Kỹ năng lựa chọn được các cách thức giải quyết vấn đề lịch sử, vấn đề, tình huống thực tiễn một Năng lực giải quyết cách tối ưu.
2 vấn đề - Kỹ năng trình bày diễn biến cuộc kháng chiến, trận đánh, chiến dịch, cuộc chiến tranh trên lược đồ, sơ đồ, bản đồ lịch sử. - Kỹ năng vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc sống, hay các vấn đề thời sự đang diễn ra trong nước và thế giới. - Kỹ năng xác định và giải quyết được mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện lịch sử với nhau. - Tư duy tái tạo (kỹ năng ghi nhớ sự kiện;Tưởng tượng, kỹ năng tái tạo.) - Tư duy sáng tạo (KN so sánh; kỹ năng phân Năng lực sáng tạo 3 tích; kỹ năng phản biện; kỹ năng khái quát hóa.) (năng lực tư duy) - Kỹ năng trả lời câu hỏi, bài tập lịch sử một cách sáng tạo.
- Kỹ năng nhận xét, rút ra bài học kinh nghiệm từ những sự kiện, hiện tượng, nhân vật, vấn đề lịch sử. Nhóm năng lực về quan hệ xã hội - Khả năng sử dụng được ngôn ngữ lịch sử để trình bày một nội dung kiến thức, 4 Năng lực giao tiếp - Diễn đạt được ngôn ngữ lịch sử qua các thời kì, tránh hiện đại hóa lịch sử. - Sử dụng ngôn ngữ để biểu cảm và tái hiện cảm xúc lịch sử. - Kỹ năng làm việc theo nhóm, tập thể để giải Năng lực hợp tác, hội 5 quyết một nhiệm vụ học tập.
nhập - Kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử III. Nhóm năng lực công cụ Kỹ năng khai thác internet (thông tin tư liệu, tranh ảnh, bản Năng lực sử dụng côn đồ, phim tư liệu.) để tìm kiếm nội dung kiến thức lịch sử. 6 nghệ thông tin và - Kỹ năng sử dụng phần mềm dạy học như sơ đồ tư duy, truyền thông (ICT) Powerpoint trình để trình bày nội dung lịch sử - Kỹ năng trình bày, lập luận, thể hiện chính kiến của mình Năng lực sử dụng 7 về một nội dung kiến thức lịch sử bằng ngôn ngữ viết. ngôn ngữ - Kỹ năng thuyết trình bằng lời nội dung kiến thức lịch sử.
Sử dụng thống kê toán học trong học tập bộ môn 8 Năng lực tính toán lịch sử như vẽ sơ đồ, biểu đồ, đồ thị lịch sử Nguồn: [7, tr. 47] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Hợp tác Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, hợp tác có nghĩa là “chung sức, giúp đỡ qua lại với nhau” [23, tr. Theo từ điển Tâm lí học “Hợp tác là hai hay nhiều bộ phận trong một nhóm cùng làm việc theo cùng một cách thức để tạo ra một kết quả chung” [38, tr.
Các định nghĩa về hợp tác xét về nội hàm gồm những dấu hiệu cơ bản sau đây: Có mục đích chung trên cơ sở mọi người đều có lợi; Công việc được phân công phù hợp với năng lực của từng người; Bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nguồn lực và thông tin, tự nguyện hoạt động;Các thành viên trong nhóm phụ thuộc lẫn nhau, trên cơ sở trách nhiệm cá nhân cao;Cùng chung sức, giúp đỡ hỗ trợ, khích lệ tinh thần tập thể và bổ sung cho nhau. Có thể hiểu, hợp tác là sự kết hợp giữa hai hoặc nhiều người thành một nhóm, trong đó mỗi người đảm nhận một vai trò khác nhau và cùng phối hợp, giúp đỡ, chia sẻ lẫn nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ chung nào đó.