đặt vấn đề, lập luận, dự đoán, chứng minh hay bác bỏ giả thuyết bằng thực nghiệm, mô hình hóa, giải thích…, các kĩ năng giao tiếp, hợp tác, đánh giá và ra quyết định [8]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp giáo dục theo hƣớng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tƣ duy độc lập của ngƣời học. Các môn học áp dụng phƣơng pháp tích cực hóa hoạt động của ngƣời học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hƣớng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo môi trƣờng học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề nhằm khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện tiềm năng của bản thân và phát triển [8].
Học sinh tự tìm tòi kiến thức, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức, bồi dƣỡng phẩm chất, năng lực thông qua các hoạt động học tập dƣới sự chỉ đạo, tổ chức, hƣớng dẫn của giáo viên; học sinh đƣợc trình bày và bảo vệ ý kiến của mình, đƣợc lắng nghe và phản biện ý kiến của bạn, nhất là khi tham gia các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo; khắc phục lối truyền đạt áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tạo điều kiện cho học sinh đƣợc học tập qua các nguồn học liệu đa dạng, phong phú trong xã hội. Từ đó phát triển năng lực tự học và chuẩn bị tâm thế cho học tập suốt đời. PPDH phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của ngƣời học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin.), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tƣ duy.
Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phƣơng pháp chung và phƣơng pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên phải đảm bảo đƣợc nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hƣớng dẫn của giáo viên”. Việc sử dụng PPDH gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tƣợng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp nhƣ học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp.
Cần chuẩn bị tốt về phƣơng pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho ngƣời học. Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và phù hợp với đối tƣợng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
Việc đổi mới PPDH theo định hƣớng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trƣng cơ bản sau: Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chƣa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức đƣợc sắp đặt sẵn. Giáo viên là ngƣời tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn. Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa (SGK) và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới. Định hƣớng cho học sinh cách tƣ duy nhƣ phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tƣơng tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.
Ba, tăng cƣờng phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trƣờng giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung. Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức nhƣ theo lời giải/đáp án mẫu, theo hƣớng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm đƣợc nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót. Năng lực và phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trung học phổ thông 1.
Năng lực của học sinh 1. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh: “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ”. Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực, tùy theo cơ sở lựa chọn để tiếp cận khái niệm này. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm năng lực đƣa ra ra trong Chƣơng trình giáo dục phổ thông Chƣơng trình tổng thể của Bộ GD&ĐT ban hành ngày 26/12/2018.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bộ GD&ĐT xác định: “Năng lực là thuộc tính cá nhân đƣợc hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con ngƣời huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [8]. Cấu trúc năng lực Có nhiều mô hình cấu trúc năng lực khác nhau. Theo [1], cấu trúc chung của các NL gồm: NL chuyên môn, NL phƣơng pháp, NL xã hội và NL cá thể, đƣợc mô tả bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Cấu trúc chung của năng lực Cấu trúc NL NL cá thể NL chuyên môn NL xã hội NL phƣơng pháp NL hành động Nhƣ vậy, giáo dục định hƣớng phát triển NL không chỉ nhằm mục tiêu phát triển NL chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển NL phƣơng pháp, NL xã hội và NL cá thể.
Những NL này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. NL hành động đƣợc hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này. Các đặc điểm của năng lực Năng lực có các đặc điểm sau: - Năng lực thể hiện những đặc thù tâm lí, sinh lí khác biệt của cá nhân, chịu ảnh hƣởng của yếu tố bẩm sinh di truyền về mặt sinh học, đồng thời chịu tác động của những điều kiện của môi trƣờng sống. - Năng lực chỉ có thể quan sát đƣợc qua hoạt động của cá nhân ở các tình huống nhất định.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Xét về mặt hình thức, năng lực thƣờng tồn tại dƣới hai dạng: năng lực cốt lõi và năng lực chuyên biệt. + Năng lực cốt lõi: là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả. + Năng lực chuyên biệt: là năng khiếu chỉ có ở một số ngƣời [8]. - Năng lực đƣợc hình thành và phát triển trong và ngoài nhà trƣờng.
- Năng lực và các thành tố của nó không bất biến mà có thể thay đổi từ năng lực sơ đẳng, thụ động tới năng lực bậc cao mang tính tự chủ cá nhân. - Năng lực đƣợc hình thành và phát triển liên tục trong suốt cuộc đời con ngƣời. Một số năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh phổ thông. Theo chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ giáo dục và đào tạo công bố ngày 26/12/2018, các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho HS THPT là: NL tự học và tự hoàn thiện, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Bên cạnh đó, yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của HS bao gồm: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ và NL thể chất. Theo chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể môn Hóa học của Bộ giáo dục và đào tạo công bố [9], các năng lực cần hình thành và phát triển cho HS THPT nhƣ sau: - Năng lực nhận thức kiến thức hóa học: Nhận thức đƣợc các kiến thức cơ sở về cấu tạo chất; các quá trình hoá học; các dạng năng lƣợng và bảo toàn năng lƣợng; một số chất hoá học cơ bản và chuyển hoá hoá học; một số ứng dụng của hoá học trong đời sống và sản xuất. - Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dƣới góc độ hóa học: Quan sát, thu thập thông tin; phân tích, xử lí số liệu; giải thích; dự đoán đƣợc kết quả nghiên cứu một số sự vật, hiện tƣợng trong tự nhiên và đời sống. - Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Vận dụng đƣợc kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết một số vấn đề trong học tập, nghiên cứu khoa học và một số tình huống cụ thể trong thực tiễn [9].
Luận văn này, chúng tôi nghiên cứu việc phát triển NLHT cho HS thông qua việc sử dụng PPDH tích cực. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các phương pháp đánh giá năng lực Đánh giá năng lực trong dạy và học tích cực đòi hỏi phải nhìn nhận HS nhƣ một “tổng thể” toàn diện. Để đánh giá năng lực của ngƣời học cần nhấn mạnh đến đánh giá quá trình học.
Việc đánh giá quá trình học kết hợp đánh giá kết quả học sẽ đem lại những thông tin phản hồi để cả ngƣời dạy và ngƣời học điều chỉnh hoạt động dạy và học của mình. Đánh giá quá trình có thể thực hiện thông qua quan sát các ứng xử của HS trong các vấn đề, nhiệm vụ, tình huống học tập, qua phân tích hồ sơ học tập của HS, qua các bài kiểm tra nói hoặc viết, qua đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá của mỗi HS. Muốn đánh giá đƣợc năng lực của HS, GV cần phải có năng lực đánh giá – một năng lực nghề nghiệp. Phần cốt lõi của năng lực đánh giá là hệ thống kĩ năng đƣợc sử dụng trong tiến trình thực hiện đánh giá liên tục (on – going assessment) quá trình học tập và dạy học.
Trong dạy học tích cực, chúng ta có thể sử dụng các phƣơng pháp đánh giá sau để đánh giá năng lực HS: [4], [6].