phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài - Chƣơng 2: Sử dụng bài tập nghiên cứu trong dạy học phần sinh thái học – Sinh học 12 - Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Trên thế giới Trong lịch sử giáo dục thế giới, vấn đề phát triển năng lực học tập đƣợc quan tâm từ rất sớm và nhìn nhận theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Các nhà bác học cổ đại nhƣ Xôcorat (469 – 690 TCN), Arixtot (384 – 322 TCN), Khổng Tử (551 – 479 TCN), Mạnh Tử (372 – 289 TCN), Trƣơng Tài (97 – 27 TCN),.
đều đánh giá cao vai trò của việc phát huy tính tích cực của HS. Đến thời cận đại, vấn đề phát huy tính tích cực sáng tạo của HS đã trở thành ý tƣởng chung của nhiều nhà tƣ tƣởng và giáo dục nhƣ Thô-Mat-Mo-Rơ (1476 – 1535), Môn-tê-nhơ (1533 – 1592), Cô-men-xki (1592 – 1670), Krup-xcai-a (1869 – 1939). Intel ISEF là hội thi khoa học lớn nhất thế giới dành cho học sinh phổ thông từ lớp 9 – 12, ở 17 lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác nhau nhằm tăng cƣờng hiệu quả và sáng kiến sử dụng công nghệ trong dạy và học, sự thông thạo và kỹ năng giải quyết vấn đề ở giới trẻ, thúc đẩy sự tiến bộ trong dạy và học các môn khoa học, toán học, kỹ thuật, v.v… Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến nay, vấn đề năng lực học tập đƣợc đề cao.A Rubakin với tác phẩm “Tự học nhƣ thế nào” nhấn mạnh “Việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để bạn tích cực, chủ động trong tự học” .Các nhà nghiên cứu cũng đƣa ra nhiều quan điểm tổ chức hoạt động tích cực của HS, trong đó có sử dụng hệ thống bài tập. Tác phẩm “Chuẩn bị giờ học nhƣ thế nào” của nhà sƣ phạm N.Đairi nhấn mạnh đến loại bài tập gợi vấn đề trên lớp để tổ chức hoạt động nhận thức của ngƣời học.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong nước Nghiên cứu các vấn đề về lí luận công tác NCKH từ trƣớc đến nay đã có nhiều sách tham khảo hoặc giáo trình cho các GV và sinh viên nhƣ: 1. Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.Phạm Viết Vƣợng (2001), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học.
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Phạm Trung Thanh, Th. Nguyễn Thị Lý (2000), Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học trong sinh viên. NXB khoa học và kỹ thuật.
Các tài liệu trên về cơ bản đều đã chỉ ra cơ sở lý luận về công tác NCKH nói chung, cách thực hiện và trình bày một đề tài NCKH nhƣng lại hầu hết là tập trung hƣớng dẫn sinh viên NCKH. Còn với đối tƣợng là HS THPT, qua thành công của Việt Nam tại Hội thi KHKT đặc biệt từ năm 2012 càng khẳng định khả năng sáng tạo của HS Việt Nam với nhiều dự án rất sáng tạo và độc đáo. Để đạt đƣợc kết quả nhƣ vậy không thể thiếu vai trò hƣớng dẫn, tổ chức của GV, các nhà khoa học. Bộ Giáo dục và đào tạo đã tiến hành tập huấn giáo viên các trƣờng THPT thông qua: 1.“Hội thảo – Tập huấn :Tổ chức cuộc thi khoa học kĩ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học ” do TS.
Vũ Đình Chuẩn – Vụ trƣởng Vụ trung học Bộ GD&ĐT thực hiện với nội dung chủ yếu là thảo luận thống nhất về các tiêu chí chấm các dự án dự thi của thí sinh và công tác tổ chức cuộc thi KHKT cấp tỉnh/ thành phố và cấp quốc gia dành cho học sinh trung học năm học 2012-2013 .Vũ Anh Tuấn “Giới thiệu khung nghiên cứu và hướng dẫn học sinh trung học nghiên cứu khoa học kĩ thuật” tháng 12 năm 2012 tại Hà Nội trong đó nêu mục đích, hình thức tổ chức, nội dung, tiến trình thực hiện đề tài NCKH. Nhƣng thực tế, ngay bản thân một số GV vẫn còn rất mơ hồ về lí luận công tác NCKH dẫn đến lúng túng khi triển khai hƣớng dẫn HS thực hiện đề tài, áp dụng còn máy móc, thực sự chƣa hiểu sâu bản chất và ý nghĩa của công tác NCKH 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của HS. Vấn đề sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học đƣợc đặt ra từ những năm 60 của thế kỉ XX. Ngƣời đi sâu nghiên cứu vấn đề này là I.
Lerner, nhà giáo dục học ngƣời Nga. Ông có hẳn một công trình nghiên cứu về vấn đề này, mang tên “Bài tập nhận thức”. Công trình này đã đƣợc hai dịch giả Nguyễn Cao Lũy và Văn Chu (Viện Chƣơng trình và phƣơng pháp – Bộ Giáo dục) dịch sang tiếng Việt. Việc sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học đƣợc các nhà nghiên cứu ở Việt Nam khẳng định là điều kiện cần thiết để phát triển tư duy học sinh [22].
Giá trị của bài tập nhận thức đƣợc khẳng định rất rõ ràng, song trên thực tế, việc sử dụng bài tập nhận thức còn rất hạn chế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực tế này, trong đó có nguyên nhân quan trọng là giáo viên chƣa đƣợc hƣớng dẫn cụ thể về cách xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức. Hiện nay, ngoài công trình của I.TS Lê Đình Trung, TS. Vũ Đức Lƣu [ 20],[14], đã có công trình nghiên cứu về Bài tập nhận thức đƣợc xuất bản, làm tài liệu tham khảo cho giáo viên.
Tài liệu này nhằm phát huy tính tích cựu, tự lực của học sinh trong quá trình học tập. Tuy nhiên việc xây dựng bài toán nhận thức trong dạy học sinh học còn rất hạn chế, giáo trình phƣơng pháp dạy học sinh học viết: “Bài tập nhận thức hiện còn mới mẻ đối với việc học sinh học ở trƣờng phổ thông ở nƣớc ta. Từ thực tiễn, chúng ta sẽ bổ sung nhận thức lý luận và kinh nghiệm thực hành của loại bài tập này”. Trong điều kiện nhƣ vậy, việc tìm ra cách thức xây dựng bài tập và áp dụng vào thực tế dạy học một cách có hiệu quả là rất cần thiết.
Khái niệm về học Học ngày nay đƣợc nhìn nhận bằng nhiều góc độ khác nhau. Học vẫn còn là một quá trình bí ẩn, chƣa khám phá đƣợc một cách đầy đủ về cơ chế của quá trình 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học diễn ra trong não nhƣ thế nào. Nếu quan tâm đến kết quả cuối cùng đạt đƣợc là sản phẩm học hay hành vi nhận biết đƣợc. Đó là cách tiếp cận theo hành vi – đáp lại phản xạ của PavLôp, tiếp cận theo hành vi – tác động phản xạ có điều kiện: “Dạy là thành lập những phản xạ có điều kiện, hình thành ở đối tượng những kinh nghiệm hành động, học là hình thành cho mình những phản ứng trả lời mới chưa có trong vốn phản xạ không điều kiện được di truyền”.
Hay hành vi tác động, phản xạ có điều kiện của Skinner: “ Học là quá trình làm biến đổi hành vi từ kinh nghiệm hay là từ sự tiếp xúc với môi trường sống của chủ thể”. Nếu quan tâm đến quá trình học bằng cách tìm hiểu những gì đã xảy ra trong trí óc ngƣời học, trong hộp đen, tức là cách tiếp cận về trí tuệ, theo bƣớc chân Piaget với cơ chế đồng hoá, điều ứng, cân bằng… hay Vƣgốtski với vùng phát triển gần [20]. “ Học là quá trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trường” hay “ Học là tích hợp, đồng hoá, điều ứng, nhập nội những dữ liệu mới làm biến đổi cấu trúc nhận thức nội tại hiện có” [6]. Nếu kết hợp hai vấn đề trên thành một mô hình quá trình thông tin với các thuật ngữ: thu nhận, xử lý, chƣơng trình hoá… thì “ Học là tự tạo ra khả năng xác định vấn đề cần giải quyết, thu nhận, xử lý thông tin và ứng dụng chương trình giải quyết vấn đề”[6].
Cơ sở để hình thành, phát triển của giáo dục là ngƣời học, việc học. Vì vậy, giải quyết vấn đề giáo dục là giải quyết vấn đề học mà nội dung cơ bản là mục đích học, nội dung học, phƣơng pháp học, quản lí việc học, đánh giá việc học, cơ sở vật chất phục vụ việc học. Có giải quyết đƣợc việc học mới nghĩ đến giải quyết việc dạy; nhƣ vậy khác với quan niệm trƣớc đây, ngày nay cho rằng học quy đinh dạy. Đối tƣợng của giáo dục là ngƣời học, mà ngƣời học là ngƣời đi học chứ không phải là ngƣời đƣợc dạy.
Ngƣời học là ngƣời với năng lực cá nhân của mình tham gia vào việc tìm ra kiến thức mới cho mình. Ngƣời học là ngƣời đi tìm ra cách học và tìm cách hiểu cho nên nếu ngƣời học không có đủ nỗ lực bản thân để tự học, tự biến đổi mình thì mục tiêu đào tạo không thể nào thành hiện thực đƣợc, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣợc lại bản thân cố gắng tự học thì dù điều kiện học chƣa đầy đủ vẫn có thể từng bƣớc hình thành năng lực mới, phẩm chất mới [18]. Bác Hồ đã dạy: “ Cách học tập, phải lấy tự học làm cốt”. Việc học của mỗi ngƣời không phải chỉ diễn ra khi đến trƣờng mà việc học phải diễn ra suốt đời, với mục đích là học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm ngƣời [19,tr5].
Trong quá trình phát triển, quan niệm về học đƣợc đƣợc nhìn theo nhiều góc độ khác nhau nhƣ theo quan điểm sinh lí học của Pavlop thì học là thành lập phản xạ có điều kiện, hình thành cho mình những phản ứng mới, còn theo quan điểm của Skinnor thì học là tự điều hoà hành vi để dẫn tới hành vi mong muốn. Theo quan điểm tâm lí học của Vƣgốtski thì học là quá trình tự biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trƣờng [21]. Theo các quan điểm dạy học truyền thống thì học là quá trình chiếm lĩnh, ứng dụng hay sử dụng kiến thức, hoặc học tập là ghi nhớ, lặp lại, thuộc lòng [5]. Nhƣ vậy, học là nhận ra kiến thức học, tìm ra bản chất của kiến thức từ đó xác định đƣợc quan hệ của các kiến thức và hệ thống hoá đƣợc kiến thức mới với các kiến thức đã biết và kết quả cuối cùng là vận dụng đƣợc kiến thức đó vào thực tiễn.