MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Năng lực giao tiếp là một trong những năng lực cốt lõi cần rèn luyện và phát triển của HS phổ thông Đổi mới giáo dục phổ thông là vấn đề mang ý nghĩa thời sự trong giai đoạn hiện nay. Dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực ngƣời học đƣợc đặt ra với tất cả các cấp học, đồng thời chi phối đến cách xây dựng chƣơng trình (CT), lựa chọn nội dung, phƣơng pháp dạy học cũng nhƣ cách kiểm tra, đánh giá.
Chƣơng trình giáo dục định hƣớng năng lực (định hƣớng phát triển năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra đƣợc bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX và ngày nay đã trở thành xu hƣớng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hƣớng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực ngƣời học; thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con ngƣời năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Trong các năng lực cần hình thành, rèn luyện và phát triển cho HS, có năng lực giao tiếp. Phát triển năng lực giao tiếp (NLGT) là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng mục tiêu cho từng môn học, trong đó có môn Ngữ văn ở THPT.
Mục tiêu này lại chi phối tới mục tiêu cụ thể của từng phân môn, từng cụm bài, từng nội dung bài học cụ thể. Đối với phân môn Tiếng Việt, chƣơng trình (CT), sách giáo khoa (SGK) đã chú trọng tới khả năng hành dụng, tức là khả năng ứng dụng những tri thức về ngôn ngữ, về tiếng Việt để thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp. Đây cũng là mục tiêu đã đƣợc CT Ngữ văn sau năm 2018 đặt ra: “Góp phần giúp HS phát triển các năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Đặc biệt, môn Ngữ văn giúp HS phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học: rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; có hệ 2 thống kiến thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và văn học, phát triển tư duy hình tượng và tư duy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản của một người có văn hoá; biết tạo lập các văn bản thông dụng; biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống” [13, tr.
Nhƣ vậy, bên cạnh các năng lực chung, năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học thể hiện đặc trƣng của môn Ngữ văn, NLGT có ý nghĩa quan trọng, chi phối đến quá trình dạy học. Giao tiếp vốn là một chức năng làm tiền đề khách quan cho sự phát sinh và phát triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ ra đời không có mục đích tự thân mà nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp giữa con ngƣời trong cộng đồng xã hội - một nhu cầu mang tính bẩm sinh. NLGT là năng lực cốt lõi, không thể thiếu trong các năng lực cần hình thành, phát triển cho HS trong thời kì hội nhập quốc tế.
Trong nhiều CT giáo dục phổ thông ở các nƣớc trên thế giới, giao tiếp đƣợc coi là một “năng lực xuyên chƣơng trình” hay năng lực chung. Những chƣơng trình dạy học này đã nhấn mạnh rằng việc dạy tiếng nói dân tộc sẽ trau dồi cho HS một ngôn ngữ giao tiếp phong phú, đa dạng để thích ứng với nền văn hóa sống động của nhân loại. Ngữ pháp nói chung, cụm bài về dấu câu nói riêng là nội dung dạy học có khả năng cao trong việc phát triển NLGT cho HS Bên cạnh các bình diện khác của ngôn ngữ nhƣ ngữ âm, từ vựng, phong cách…, ngữ pháp là một trong những nội dung quan trọng của phần tiếng Việt trong chƣơng trình (CT), sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn cấp THCS. Nội dung này thể hiện rõ nhất sự vận dụng tri thức ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng vào hoạt động giao tiếp.
Bởi, nếu từ ngữ là những yếu tố có sẵn thì các đơn vị của của ngữ pháp, là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, bao gồm toàn bộ các quy tắc cấu tạo từ, biến đổi từ, kết hợp thành cụm từ, câu và cả các quy tắc liên kết câu để tạo thành đơn vị lớn hơn là đoạn văn và văn bản. Ngữ pháp có vai trò quan trọng trong việc tổ chức hoạt động tạo lập và lĩnh hội văn bản. Do vậy mục tiêu của 3 việc dạy học ngữ pháp chủ yếu là thực hành nhằm hƣớng HS đến việc sử dụng thành thạo, có hiệu quả các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Trong chƣơng trình dạy học THCS, nội dung dạy về câu có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Những hiểu biết của ngƣời học về âm thanh, chữ viết, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp và phong cách đƣợc thể hiện rất rõ trong cách lựa chọn và sử dụng câu. Liên quan trực tiếp đến tạo lập câu, sử dụng câu trong hoạt động giao tiếp là cách dùng dấu câu. Bởi, dấu câu là phƣơng tiện ngữ pháp dùng trong chữ viết. Tác dụng của nó là làm rõ trên mặt chữ viết một cấu tạo ngữ pháp, bằng cách chỉ ranh giới giữa các câu, giữa các thành phần của câu đơn, giữa các vế của câu ghép, giữa các yếu tố của ngữ và của liên hợp.
Nói chung, nó thể hiện ngữ điệu lên trên câu văn, câu thơ. Cho nên, có trƣờng hợp nó không phải chỉ là một phƣơng tiện ngữ pháp, mà còn là phƣơng tiện để biểu thị những sắc thái tế nhị về nghĩa của câu, về tƣ tƣởng, về cả tình cảm, thái độ của ngƣời nói, ngƣời viết trong hoạt động giao tiếp ở cả hai phƣơng diện: tạo lập và lĩnh hội các đơn vị ngôn ngữ trong các tình huống khác nhau. Vì vậy, việc phát triển NLGT của HS trong dạy học về câu nói chung, dạy học cụm bài Dấu câu trong CT Ngữ văn THCS nói riêng là rất cần thiết. Việc nghiên cứu này vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học theo hƣớng phát triển NLGT ở ngƣời học.
Thực tế dạy học cụm bài về dấu câu còn nhiều bất cập Có lần trong một cuộc hội thảo về truyện ngắn, nhà văn Tô Hoài đã than phiền rằng: nhiều ngƣời viết văn bây giờ hình nhƣ quên hết cả các dấu câu. Ông thật có lý khi cho rằng dấu câu là một hình thức của chữ, của từ…Thực trạng này còn phổ biến hơn trong nhà trƣờng phổ thông, đặc biệt là các bài làm văn cuối cấp THCS, bài làm văn ở kì thi THPT. Nội dung dạy học về dấu câu đã đƣợc đề cập đến từ cấp Tiểu học đến THPT, ở cả CT, SGK năm 2002 và CT Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018. Điều đó khẳng định đƣợc vị trí của việc hiểu biết và sử dụng dấu 4 câu trong giao tiếp ở HS.
Mặc dù trong CT, SGK Ngữ văn, nội dung dạy học về dấu câu chỉ đƣợc giới hạn trong khuôn khổ của một số tiết theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo, nhƣng việc sử dụng dấu câu sẽ luôn đồng hành cũng với HS trong đời sống, trong giao tiếp, dù là ở bất kì lĩnh vực nào. Tuy nhiên, có một thực tế, tình trạng viết câu sai, sử dụng dấu câu không hợp lý, cách diễn đạt xa rời chuẩn mực tiếng Việt vẫn còn nhiều, thể hiện trong bài viết và trong giao tiếp hàng ngày của HS, ảnh hƣởng không nhỏ đến năng lực tƣ duy, đọc hiểu văn bản và làm văn của các em. Mặt khác, khi sử dụng dấu câu không khoa học, không chính xác với nội dung ngữ nghĩa của câu, với tình huống giao tiếp cũng có nghĩa là không đạt đƣợc mục đích giao tiếp đặt ra. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, trong đó có một phần là cách xây dựng chƣơng trình, cách dạy còn nặng về tính “hàn lâm”, chú trọng đến cung cấp tri thức, chƣa chú trọng thực sự đến việc rèn luyện, thực hành của HS.
Hệ thống bài tập trong SGK, sách bài tập chƣa đa dạng; các ngữ liệu dùng để dạy học về dấu câu chƣa gắn với tình huống giao tiếp, chƣa thực sự gây đƣợc hứng thú ở HS… Vì vậy, làm thế nào để HS hiểu đƣợc giá trị của các dấu câu trong tiếng Việt và sử dụng có hiệu quả các dấu câu trong giao tiếp là mục tiêu của việc dạy học Ngữ pháp nói riêng, dạy học Ngữ văn nói chung. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THCS trong dạy học cụm bài về dấu câu làm đối tƣợng nghiên cứu của luận văn. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 2. Lịch sử nghiên cứu về dạy tiếng Việt theo hƣớng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh phổ thông Dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp là một xu hƣớng hiện đại đƣợc rất nhiều nƣớc thực hiện và đạt đƣợc nhiều thành tựu không thể phủ nhận.
Đây là vấn đề đã đƣợc nghiên cứu từ rất lâu, với những quan niệm của nhiều tác giả trên thế giới. 5 Các học giả Widdowson H.J và Johnsonk (1979) là những ngƣời đầu tiên chủ trƣơng đƣa quan điểm này vào quá trình dạy học. Họ đã dựa vào công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học chức năng Anh (John Firth M. Halliday (1970), công trình nghiên cứu về xã hội học của các nhà nghiên cứu Mĩ (Hymes D.
(1972) và các kết quả nghiên cứu ngữ dụng học của Austin J.R (1969), để đề ra cơ sở lí luận cho đƣờng hƣớng dạy học Tiếng theo quan điểm chức năng hay còn gọi là quan điểm giao tiếp. Từ giữa những năm 70 đƣờng hƣớng dạy học theo quan điểm này đƣợc phát triển rộng rãi ở Anh và Mĩ. Ở Việt Nam, việc dạy học tiếng Việt theo hƣớng phát triển NLGT cũng đã sớm đƣợc các nhà nghiên cứu và các nhà sƣ phạm nhƣ: Nguyễn Xuân Khoa, Đỗ Hữu Châu, Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán, Nguyễn Trí. đặc biệt quan tâm.
Nguyễn Quang Ninh trong “Một số vấn đề lí luận của việc dạy tiếng” khẳng định: mục đích của việc dạy tiếng là phát triển NLGT. Vì vậy, “trong giảng dạy ngƣời ta chú trọng đến việc sử dụng ngữ pháp phát ngôn (thay cho ngữ pháp câu trong truyền thống) nhằm làm cho ngôn ngữ thực hiện đƣợc chức năng giao tiếp của mình” [31, tr. Quan điểm trên chi phối đến việc xác định nguyên tắc và phƣơng pháp dạy học tiếng Việt ở các trƣờng Cao đẳng, Đại học Sƣ phạm.