CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Năng lực và năng lực giải quyết vấn đề 1.
Khái niệm năng lực Khái niệm NL (competency) có nguồn gốc tiếng Latinh “competenia”. Khái niệm NL được hiểu nhiều nghĩa khác nhau: NL bao gồm các kiến thức, kĩ năng cũng như quan điểm và thái độ mà một cá nhân có để hành động thành công trong các tình huống mới. Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2015), NL là “khả năng giải quyết” và mang nội dung khả năng và sự sẵn sàng để giải quyết các tình huống [10]. Theo John Erpenbeck, “NL được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua ý chí”.
Weinert (2001) định nghĩa: “NL là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách GQVĐ một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt.” Như vậy, NL là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Khái niệm NL gắn liền với khả năng hành động. NL hành động là một loại NL, nhưng khi nói phát triển NL người ta cũng hiểu đồng thời là phát triển NL hành động. NL là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kỉ xão và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động [10].
Đặc điểm chung của năng lực NL có các đặc điểm sau: 1. NL là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân: NL không phải chỉ là 18 một thuộc tính, đặc điểm nào đó của cá nhân mà nó bao gồm những thuộc tính tâm lý và sinh lý. Tuy nhiên, sự tổ hợp này không phải tất cả những thuộc tính tâm lý và sinh lý mà chỉ bao gồm những thuộc tính tương ứng với những đòi hỏi của một hoạt động nhất định nào đó trong một ngữ cảnh, một tình huống nhất định và làm cho hoạt động đó đạt được kết quả. Tổ hợp các thuộc tính không phải là sự cộng gộp đơn thuần các thuộc tính đó mà là sự tương tác lẫn nhau giữa các thuộc tính làm thành một hệ thống, một cấu trúc nhất định.
Khi chúng ta tiến hành một hoạt động cần có những thuộc tính A, B, C. Cấu trúc này rất đa dạng và nếu thiếu một thuộc tính thì thuộc tính khác sẽ bù trừ. NL chỉ tồn tại trong một hoạt động. Khi con người chưa hoạt động thì NL vẫn còn tiềm ẩn.
NL chỉ có tính hiện thực khi cá nhân hoạt động và phát triển trong chính hoạt động ấy. Kết quả trong công việc thường là thước đo để đánh giá NL của cá nhân làm ra nó. Tuy nhiên, NL con người không phải sinh ra đã có, nó không có sẵn mà được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và giao tiếp [4]. Cấu trúc của năng lực Có nhiều cách tiếp cận về cấu trúc của NL, cụ thể như sau: 1.
Bản chất: NL là khả năng chủ thể kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức hợp lý các kiến thức, kĩ năng, với thái độ, giá trị, động cơ nhằm đáp ứng yêu cầu phức tạp của một hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đó có chất lượng trong một bối cảnh (tình huống) nhất định. Biểu hiện: NL thể hiện bằng sự biết sử dụng các kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá trị, động cơ trong một tình huống có thực chứ không phải là sự tiếp thu các tri thức rời rạc, tách rời tình huống thực tức là thể hiện trong hành vi, hành động và sản phẩm có thể quan sát được, đo đạc được. Thành phần cấu tạo: NL được cấu thành bởi các thành tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá trị, tình cảm và động cơ cá nhân, tư chất. Có nhiều mô hình cấu trúc NL, hiện nay thường sử dụng mô hình các đơn vị của NL (Units of Competency), cụ thể như sau: 19 i) Các hợp phần của NL (Components of Competency) là các lĩnh vực chuyên môn (domain) thể hiện khả năng tiềm ẩn của con người.
Mỗi hợp phần là mô tả khái quát của một hoặc nhiều hoạt động, điều kiện hoạt động. ii) Các thành tố của NL (Elements of Competency) là các kĩ năng cơ bản, kết hợp với nhau tạo nên mỗi hợp phần, thường được bắt đầu với động từ mô tả rõ ràng giá trị của hoạt động. iii) Chỉ số hành vi (Behavioral indicator): yêu cầu cần thực hiện của mỗi thành tố và mức độ thành thạo ở mỗi yêu cầu đó, gọi là tiêu chí chất lượng (quality criteria) [4]. Các yếu tố cấu thành NL được thể hiện ở hình 1.
Tiêu chí hình thành xác định chất lượng (khái niệm) phần NL của NL tạo nên NL Tiêu chí chất lượng 1 Các chỉ số 1 Tiêu chí chất lượng Tiêu chí chất lượng 3 Năng lực 1 Tiêu chí chất lượng 4 Năng lực Các chỉ số 2 Tiêu chí chất lượng NL cần 2 5 hình thành Năng lực Tiêu chí chất lượng 3 6 Năng lực 4 Hình 1. Mô hình các yếu tố cấu thành của một năng lực [4] 20 d. Năng lực chung và năng lực đặc thù Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2015), NL chung là những NL cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như: NL nhận thức, NL trí tuệ, NL về ngôn ngữ và tính toán, NL giao tiếp, NL vận động. Các NL này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau [10].
Theo Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2018), chương trình giáo dục phổ thông nhằm hình thành và phát triển cho HS 3 NL chung chủ yếu sau: (1) NL tự chủ và tự học, (2) NL giao tiếp và hợp tác, (3) NLGQVĐ và sáng tạo [7]. Những NL đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định, bao gồm: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất. Trong đó, NL được hình thành và phát triển trong dạy học môn Khoa học tự nhiên (Trung học cơ sở) và môn Sinh học (THPT) bao gồm: NL nhận thức kiến thức sinh học, NL tìm tòi và khám phá thế giới sống dưới góc độ sinh học, NL vận dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn. Biểu hiện của NL chuyên môn trong dạy học môn Sinh học được thể hiện ở bảng 1.
Những biểu hiện của năng lực Sinh học [7] Năng lực Biểu hiện - Trình bày, phân tích và giải thích được các kiến thức sinh học cốt lõi về các đối tượng, sự kiện, khái niệm và các quá trình sinh học; những thuộc tính cơ bản về các cấp độ tổ chức sống từ phân tử, tế bào, cơ thể, quần thể, quần xã – hệ sinh thái, sinh quyển.NL nhận - Từ nội dung kiến thức sinh học về các cấp độ tổ chức sống, HS thức kiến thức khái quát được các đặc tính chung của thế giới sống là trao đổi sinh học chất và chuyển hoá năng lượng; sinh trưởng và phát triển; cảm ứng; sinh sản; di truyền, biến dị và tiến hoá. - Thông qua các chủ đề nội dung sinh học, HS trình bày và giải thích được các thành tựu công nghệ sinh học trong chăn nuôi, trồng trọt, xử lí ô nhiễm môi trường, sản xuất thực phẩm sạch; 21 trong y – dược học. - Thực hiện được hoạt động tìm tòi, khám phá các hiện tượng trong tự nhiên và trong đời sống liên quan đến sinh học, bao gồm: đề xuất vấn đề; đặt câu hỏi cho vấn đề tìm tòi, khám phá; đưa ra phán đoán, xây dựng giả thuyết; lập kế hoạch thực hiện; 2. NL tìm tòi thực hiện kế hoạch; viết, trình bày báo cáo và thảo luận; đề xuất và khám phá các biện pháp GQVĐ trong các tình huống học tập, đưa ra quyết thế giới sống định;.
dưới góc độ - Để thực hiện được các hoạt động trong tiến trình tìm tòi, khám sinh học phá đó, HS cần rèn luyện, hình thành và phát triển các kĩ năng như: quan sát, thu thập và xử lí thông tin bằng các thao tác logic phân tích, tổng hợp, so sánh, thiết lập quan hệ nguyên nhân – kết quả, hệ thống hoá, chứng minh, lập luận, phản biện, khái quát hoá, trừu tượng hoá, định nghĩa khái niệm. - Có khả năng giải thích những hiện tượng thường gặp trong tự nhiên và đời sống hằng ngày liên quan đến sinh học; giải thích, đánh giá, phản biện một vấn đề thực tiễn của ứng dụng tiến bộ sinh học; - Giải thích và xác định được quan điểm cá nhân để có ứng xử 3. Vận dụng thích hợp trước những tác động đến đời sống cá nhân, cộng kiến thức sinh đồng, loài người như sức khoẻ, an toàn thực phẩm, nông nghiệp học vào thực sạch, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền tiễn vững; giải thích được cơ sở khoa học của các giải pháp công nghệ sinh học để có định hướng lựa chọn ngành nghề; giải thích cơ sở sinh học để có ý thức tự giác thực hiện các biện pháp luyện tập, phòng, chống bệnh, tật, nâng cao sức khoẻ tinh thần và thể chất. Có thể thấy rằng, việc vận dụng các NL chuyên môn trong môn Sinh học để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn học tập của HS và thực tiễn lao động sản xuất trong đời sống góp phần hình thành và phát triển NLGQVĐ trong dạy học Sinh học.
Năng lực giải quyết vấn đề a. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề 22 Đầu thế kỉ XXI, nhìn chung cộng đồng giáo dục quốc tế chấp nhận định nghĩa: GQVĐ là khả năng suy nghĩ và hành động trong những tình huống không có quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường có sẵn. Người GQVĐ có thể ít nhiều xác định được mục tiêu hành động, nhưng không phải ngay lập tức biết cách làm thế nào để đạt được nó. Sự am hiểu tình huống vấn đề, và lý giải dần việc đạt mục tiêu đó trên cơ sở việc lập kế hoạch và suy luận tạo thành quá trình GQVĐ.