phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2. Một số biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học chủ đề Góc với đƣờng tròn ở lớp 9 Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới Khi nghiên cứu về NLGQVĐ, các học giả trên thế giới nhìn chung đều có những nhận định giống nhau về quan niệm, các thành tố của NLGQVĐ. Đây đƣợc coi là một trong những NL có vị trí quan trọng để con ngƣời thích ứng đƣợc với sự phát triển của xã hội. Cụ thể: Polya đƣa ra bốn bƣớc của quá trình giải quyết vấn đề.
Từ đó, có thể phân NLGQVĐ thành 04 thành tố NL thành phần: tìm hiểu vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kiểm tra.Dary trong đã xác định 03 loại kết quả cần quan tâm của sinh viên: tƣ duy phê phán, giải quyết vấn đề và viết [11]. Ở đây, các tác giả đƣa ra ý kiến đồng tình với quan điểm về giải quyết vấn đề của Jones: là sự hiểu biết vấn đề, có thể có đƣợc nền kiến thức, tạo ra giải pháp khả thi, xác định và đánh giá các khó khăn, lựa chọn giải pháp, hoạt động trong nhóm giải quyết vấn đề, đánh giá quá trình và giải quyết vấn đề. Từ đặc điểm NL, tổng hợp các mô hình khác nhau và tập trung vào quá trình giải quyết vấn đề, M.Wu cho rằng: NLGQVĐ trong toán học gồm 04 NL thành phần: NL đọc hiểu , NL suy luận toán học, NL thực hiện tính toán và NL vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong quá trình giải quyết vấn đề [3]. AH Schoenfeld khi nghiên cứu về NLGQVĐ trong dạy học môn Toán cho rằng, có 04 thành tố cơ bản để xác định khả năng quyết vấn đề của một cá nhân là: Kiến thức nền tảng (Knowledge base); Chiến lƣợc giải quyết vấn đề (Problem solving strategies or heuristics); Khả năng kiểm soát (Control); Niềm tin (Beliefs) [17].
NLGQVĐ của HS trong dạy học Toán có các dấu hiệu đƣợc thể hiện ở kiến thức, kĩ năng, thái độ trong quá trình giải quyết vấn đề. Nói cách khác, kiến thức, kĩ năng, thái độ là nền tảng của NLGQVĐ. Nhờ các dấu hiệu này, ta có thể nhận biết và đánh giá NLGQVĐ của HS. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam Đối với NLGQVĐ, đã có một số tác giả nghiên cứu về bồi dƣỡng và phát triển NLGQVĐ thông qua dạy học Toán cho HS phổ thông, trong đó Nguyễn Thụy Thùy Trang đã xem xét NL phát hiện và giải quyết vấn đề dựa trên biểu hiện của các kĩ năng trong hoạt động học tập ở phạm vi lớp học [16]. Phan Anh Tài, quan niệm đánh giá NLGQVĐ của HS trong dạy học Toán ở trung học phổ thông theo hƣớng tiếp cận quá trình giải quyết vấn đề. Vì vậy, tác giả đã đƣa ra 04 thành tố của NLGQVĐ dựa trên tiến trình giải quyết vấn đề của Polya [12]. Gần đây, cũng có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề phát triển dạy học giải quyết vấn đề cho học sinh nhƣ: Nguyễn Thị Lan Phƣơng đã xem xét NLGQVĐ của cá nhân trong hoạt động nhóm, tiếp cận NLGQVĐ theo xu hƣớng mới trên thế giới hiện nay, tiếp cận quá trình xử lí thông tin [10]; tác giả Hà Xuân Thành với luận án Tiến sĩ: “Dạy học toán ở trƣờng trung học phổ thông theo hƣớng phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn thông qua việc khai thác và sử dụng các tình huống thực tiễn” năm 2017; tác giả Lê Thu Phƣơng với đề tài: “Một số nghiên cứu về đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học toán” năm 2018.
Các công trình nghiên cứu này đã đi sâu nghiên cứu và trình bày đặc điểm của năng lực, năng lực giải quyết vấn đề. Từ đó, các tác giả đƣa ra một số biện pháp nhằm rèn luyện cho học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề, điều đó góp phần giải quyết đƣợc những yêu cầu của thực tiễn dạy và học bộ môn Toán. Nhƣ vậy, việc dạy học môn toán theo hƣớng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS đã thu hút đƣợc sự quan tâm và chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề tạo cho HS THCS, đặc biệt là HS lớp 9 qua chủ đề Góc với đƣờng tròn thì chƣa có tác giả nào đi sâu vào khai thác và nghiên cứu cụ thể.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài nghiên cứu luận văn: "Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học chủ đề Góc với đƣờng tròn ở lớp 9". Khái niệm năng lực John Erpenbeck cho rằng: “. Năng lực đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị nhƣ là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí” [19]. Weinert đƣa ra định nghĩa thực tiễn hơn, “năng lực” chỉ đến sự kết hợp của những kỹ năng xã hội, đạo đức, động cơ và năng lực nhận thức mà ngƣời học sở hữu (hoặc có thể học hỏi đƣợc) … giúp ngƣời học làm chủ đƣợc kiến thức bằng cách tìm hiểu và thực hiện các nhiệm vụ, giải quyết vấn đề, để đạt đƣợc mục tiêu học tập [11].
Tổ chức OECD (2002) cho rằng: “Năng lực không chỉ là việc miêu tả một nhiệm vụ hoặc hành động học tập, nó bao hàm việc đo lƣờng khả năng tiềm ẩn của ngƣời học và đo lƣờng kiến thức, kỹ năng, và thái độ cần có để thực hiện một nhiệm vụ học tập tới một chuẩn nào đó” [20]. Một cách định nghĩa khác [4]: “Năng lực là tổ hợp các hành động trên cơ sở sử dụng và huy động hiệu quả kiến thức và kĩ năng từ nhiều nguồn khác nhau để giải quyết thành công các vấn đề diễn ra trong cuộc sống hoặc có cách ứng xử phù hợp trong bối cảnh thực”. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu: Năng lực GQVĐ là khả năng của HS nhận ra các mâu thuẫn nhận thức trong các vấn đề học tập hoặc cuộc sống, tìm ra đƣợc phƣơng pháp để giải quyết, vƣợt qua đƣợc thử thách để tiếp thu đƣợc kiến thức, kĩ năng mới. Cấu trúc năng lực Tác giả Sigmund Freud (1915) [19] đã đƣa ra một mô hình tảng băng về “suy nghĩ của não bộ với ba mức độ: nhận thức – phần nổi, tiền nhận thức – phần giữa và không nhận thức – phần dƣới cùng.
Sigmund Freud đã nhấn 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mạnh tầm quan trọng của não bộ “không nhận thức”, và giả thiết ban đầu của ông rằng phần não bộ này kiểm soát phần lớn các hành vi. Giáo dục học cần biến phần “không nhận thức” đƣợc thành có thể “nhận thức” đƣợc. Từ các định nghĩa về năng lực, nhiều tác giả đề xuất mô hình cấu trúc năng lực dựa trên nguyên lý tảng băng gồm có ba thành tố chính: hành động, suy nghĩ và tính sẵn sàng của ngƣời học. “Hành động” chính là hành vi của ngƣời học mà chúng ta có thể quan sát đƣợc trong quá trình học tập.
“Suy nghĩ” đƣợc tạo nên từ kiến thức, kỹ năng, thái độ, chuẩn giá trị, niềm tin, … Những đặc tính này có đặc điểm không quan sát đƣợc, nhƣng thƣờng đƣợc các nhà giáo dục đánh giá thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của ngƣời học (hành vi). Nguồn gốc để hình thành nên “suy nghĩ”, chính là xuất phát từ “tính sẵn sàng” đƣợc tạo thành bởi động cơ, phẩm chất, nét nhân cách của ngƣời học. Nói cách khác, “suy nghĩ” và “tính sẵn sàng” chính là điều kiện cần và đủ để tạo ra “hành động”. Trong quá trình đào tạo, các nhà giáo dục đều nhận ra rằng, để đánh giá kết quả học tập của ngƣời học, chúng ta không chỉ đánh giá bề nổi - những gì ngƣời học thể hiện ra, mà còn phải tập trung khai thác các đặc điểm tiềm ẩn của ngƣời học (phần chìm).
Năng lực giải quyết vấn đề Trong lí luận dạy học, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề cũng là một định hƣớng đƣợc nhiều tác giả quan tâm. Đối với phƣơng pháp dạy học này, chúng ta có thể thấy hai thành tố đó là: (i) phát hiện vấn đề và (ii) giải quyết vấn đề. Hai thành tố này có thể đƣợc phân tích cụ thể hơn nhƣ sau: Phát hiện vấn đề là phát hiện nhận dạng vấn đề và nêu vấn đề cần giải quyết. Tình huống có vấn đề thƣờng xuất hiện khi nảy sinh mâu thuẫn giữa điều HS đã biết và điều đang gặp phải, tình huống bế tắc trƣớc nội dung mới, tình huống xuất phát từ nhu cầu nhận thức tại sao, phải làm nhƣ thế nào… Giải quyết vấn đề là đề xuất cách giải quyết vấn đề khác nhau (nêu giả thuyết khác nhau), thực hiện cách giải quyết đã đề ra (kiểm tra giả thuyết).
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề đòi hỏi ở HS khả năng tƣ duy, vận dụng cao hơn các kĩ năng học tập cũng nhƣ cách giải quyết các vấn đề gặp phải một cách linh hoạt hơn, điều này phù hợp với HS ở cấp học từ THPT trở lên. Trong nội dung luận văn này, tác giả chỉ tập trung vào năng lực GQVĐ cho học sinh THCS cụ thể là HS lớp 9 thông qua việc đƣa ra các biện pháp phù hợp nhằm phát huy tính chủ động, tích cực học tập của học sinh để phát huy tối đa năng lực GQVĐ của HS khi gặp các bài toán, các vấn đề trong quá trình làm bài. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề NLGQVĐ thể hiện khả năng của cá nhân (khi làm việc một mình hoặc làm việc trong một nhóm) khi tƣ duy, suy nghĩ về tình huống có vấn đề và tìm kiếm, thực hiện giải pháp cho vấn đề đó. Vì vậy, có thể hiểu: NLGQVĐ là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết các tình huống mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thƣờng [14].
Trong quá trình giải quyết vấn đề, mỗi ngƣời có thể sử dụng các cách thức, chiến lƣợc khác nhau, từ đó có những kết quả khác nhau.