mở đầu cho tư duy, hành động tư duy tích cực diễn ra trong quá trình nêu và giải quyết vấn đề”. Định nghĩa của Đinh Quang Báo [2] đã nhận được nhiều ý kiến ủng hộ khi tác giả cho rằng: “Tình huống có vấn đề là một trạng thái tâm lí của chủ thể nhận thức khi vấp phải một mâu thuẫn, một khó khăn về nhận thức. Mâu thuẫn và khó khăn đó vượt ra khỏi giới hạn đã có của chủ thể, bao hàm một điều gì đó chưa biết, đòi hỏi một sự tìm tòi tích cực, sáng tạo”. Tác giả Bùi Hiền [14], cho rằng “THCVĐ là tập hợp những điều kiện và hoàn cảnh cùng nhau tạo nên một tình thế, một vấn đề cần phải được xem xét, cân nhắc và đề ra giải pháp hợp lí”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Như vậy, mỗi tác giả đưa ra khái niệm tình huống có vấn đề khác nhau, khai thác ở những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, ý kiến của các tác giả đều chứa đựng những điểm chung. Tổng kết các nghiên cứu về vấn đề này Vũ Văn Tảo, Trần Văn Hà [29], đã đưa ra một số nhận xét chung về tình huống có vấn đề như sau: - Trong tình huống có vấn đề luôn luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải quyết, một khó khăn cần khắc phục. Chính lẽ đó, việc nghiên cứu và giải quyết tình huống có vấn đề có tác dụng kích thích chủ thể tìm tòi để tự chiếm lĩnh được tri thức mới hoặc phương hướng hành động mới.
- Tình huống có vấn đề được đặc trưng bởi trạng thái tâm lí xuất hiện ở chủ thể trong khi giải quyết một vấn đề, mà việc giải quyết đó cần đến tri thức mới, hành động mới. - Tình huống có vấn đề được cấu thành bởi 3 yếu tố: (1) nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học, (2) sự tìm kiếm những tri thức và phương hướng hành động chưa biết, (3) khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực. - Đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề là những lúng túng về lí thuyết và thực hành để giải quyết vấn đề. Trạng thái lúng túng xuất hiện trong quá trình nhận thức như một mâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể nhận thức trong hoạt động của con người.
Chính vì vậy, tình huống có vấn đề là một hiện tượng, một trạng thái tâm lí của chủ thể, THCVĐ xuất hiện nhờ hoạt động tích cực tìm tòi, nghiên cứu của chính chủ thể. Năng lực giải quyết vấn đề 1. Năng lực Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) [27] thì năng lực có thể được hiểu theo hai nghĩa: (1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó (2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao. Năng lực là một vấn đề khá trừu tượng của tâm lí học.
Khái niệm này cho đến ngày nay vẫn có nhiều cách tiếp cận và cách diễn đạt khác nhau: - Theo quan điểm của những nhà tâm lí học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các nhà tâm lí học đã chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và NL chuyên môn, và xếp vào ba mức độ: năng lực, tài năng và thiên tài - Theo Nguyễn Huy Tú [30]: “.Năng lực tự nhiên là loại NL được nảy sinh trên cơ sở những tư chất bẩm sinh di truyền, không cần đến tác động của giáo dục và đào tạo. Nó cho phép con người giải quyết được những yêu cầu tối thiểu, quen thuộc đặt ra cho mình trong cuộc sống”. - Năng lực được đào tạo là những phẩm chất trong quá trình hoạt động tâm lí tương đối ổn định và khái quát của con người, nhờ nó chúng ta giải quyết được (ở mức độ này hay mức độ khác) một hoặc một vài yêu cầu mới nào đó trong cuộc sống”.
Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do giáo dục, tập luyện. Năng lực giải quyết vấn đề(NLGQVĐ) NLGQVĐ thuộc nhóm năng lực chung và được gọi là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Các NL chung của HS được hình thành và phát triển có thể chia thành 3 nhóm (hình 1. Trong đó: Năng lực chung thuộc nhóm năng lực cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như: năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; năng lực giao tiếp, năng lực vận động….
Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau. Nhóm năng lực cốt lõi này giúp cho con người tồn tại và thích ứng với cuộc sống. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Sơ đồ các nhóm NL chung Năng lực giải quyết vấn đề nằm trong nhóm NL làm chủ và phát triển bản thân và được biểu hiện ở các mức độ sau: - Phân tích được tình huống trong học tập; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập.
- Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan vấn đề; đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề. - Thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề và nhận ra sự phù hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện. Tiêu chuẩn của tình huống thực tiễn sử dụng trong dạy học Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi sẽ tập trung chủ yếu vào các tình huống thực tiễn (THTT) và sử dụng nó trong khâu nghiên cứu tài liệu mới. Các THTT sử dụng trong dạy học được lựa chọn phải đạt những tiêu chuẩn sau: - TH phải có nguồn gốc từ thực tiễn, gần gũi với cuộc sống thực của HS.
- Phù hợp với chủ đề bài học. - Phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh. - Tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho học sinh nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Các thành tố cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề (NLGQVĐ) NL GQVĐ của HS trong dạy học Sinh học được hình thành, phát triển và thể hiện trong các hoạt động của quá trình giải quyết vấn đề. Chúng tôi cho rằng NL GQVĐ của HS trong dạy học Sinh học thuộc nhóm năng lực vận dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn và được cấu thành bởi các thành tố sau: năng lực phát hiện vấn đề; năng lực xác định giải pháp GQVĐ, năng lực thực hiện giải pháp GQVĐ, năng lực đánh giá và phát triển vấn đề. Phát hiện vấn đề - Phát hiện vấn đề từ một tình huống có vấn đề. - Giải thích và chính xác hóa tình huống (khi cần thiết) để hiểu đúng vấn đề được đặt ra.
- Phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó. Xác định giải pháp GQVĐ Tìm cách giải quyết vấn đề, thường được thực hiện theo sơ đồ sau: Hình 1. Sơ đồ xác định giải pháp GQVĐ Giải thích nội dung sơ đồ: Phân tích vấn đề: làm rõ mối liên hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm (dựa vào những tri thức đã học, liên tưởng tới kiến thức thích hợp). Thu thập, tổ chức dữ liệu, huy động tri thức; sử dụng những phương pháp, kĩ thuật nhận thức, tìm đoán suy luận như hướng đích, quy lạ về quen, đặc biệt hóa, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn chuyển qua những trường hợp suy biến, tương tự hóa, khái quát hóa, xem xét những mối liên hệ phụ thuộc, suy xuôi, suy ngược tiến, suy ngược lùi,.
Phương hướng đề xuất có thể được điều chỉnh khi cần thiết. Kết quả của việc đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề là hình thành được một giải pháp tối ưu nhất. Kiểm tra tính đúng đắn của giải pháp: Nếu giải pháp đúng thì kết thúc ngay, nếu không đúng thì lặp lại từ khâu phân tích vấn đề cho đến khi tìm được giải pháp đúng. Sau khi đã tìm ra một giải pháp, có thể tiếp tục tìm thêm những giải pháp khác, so sánh chúng với nhau để tìm ra giải pháp hợp lí nhất.
Tìm giải pháp GQVĐ cần hướng đến: NL dự đoán và suy diễn; NL phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố của vấn đề; NL kết nối kiến thức, kĩ năng đã có và tri thức cần tìm. Thực hiện giải pháp HS trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề tới giải pháp. Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại vấn đề. Trình bày giải pháp GQVĐ cần lập luận chặt chẽ, “vứt bỏ” những suy luận tạm thời thay bằng suy luận có căn cứ; không dễ dàng “thấy”,… mà phải có minh chứng, tìm cách diễn đạt gọn, mạch lạc, chính xác.
Nếu một VĐ phức tạp, HS diễn đạt theo các bước “lớn” mỗi bước lớn gồm các bước “nhỏ”. Trong khi diễn đạt giải pháp GQVĐ, HS tiến hành kiểm tra tính lôgic, chặt chẽ và sự đúng đắn của mỗi bước. Đánh giá, phát triển vấn đề Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả và đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật ngược vấn đề. giải quyết nếu có thể.
Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề 1. Mục đích, mục tiêu đánh giá NL GQVĐ HS trong dạy học a. Mục đích Cùng với chức năng cơ bản của đánh giá là: - Xác nhận mức độ đạt được - Điều tiết mục tiêu, điều tiết nội dung, điều tiết phương pháp - chẩn đoán. Đánh giá NL GQVĐ của HS trong DH nhằm mục đích giúp GV và HS tự nhận biết mức độ năng lực huy động kiến thức, kĩ năng trong chương trình học, thực hiện các thao tác tư duy, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra trong học tập, từ đó GV có biện pháp bồi dưỡng, phát triển năng lực cho HS, giúp HS biết điều chỉnh, rèn luyện NL GQVĐ.