Tổng quan nghiên cứu

Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 chính thức triển khai từ năm học 2021-2022 đã đánh dấu bước chuyển đổi căn bản của giáo dục Việt Nam từ trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Tuy nhiên, theo khảo sát thực tế tại các trường phổ thông, có tới hơn 70% các tiết học Ngữ văn vẫn diễn ra theo lối truyền thụ một chiều, khiến học sinh rơi vào tình trạng ghi nhớ thụ động và phụ thuộc vào tài liệu văn mẫu.

Vấn đề nghiên cứu đặt ra là làm thế nào để chuyển đổi phương thức tiếp nhận văn học từ giảng văn truyền thống sang đọc hiểu tích cực đối với các tác phẩm tự sự hiện đại. Truyện ngắn sau năm 1975 của nhà văn Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là hai tác phẩm Bến quê trong chương trình Ngữ văn 9 và Chiếc thuyền ngoài xa trong chương trình Ngữ văn 12, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình trung học. Các tác phẩm này chứa đựng chiều sâu triết lý nhân sinh đa tầng và hệ thống tình huống nhận thức phức tạp, đòi hỏi người học phải có năng lực giải mã văn bản độc lập thay vì ghi nhớ máy móc.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực đọc hiểu, đánh giá đúng thực trạng dạy học tại địa phương, đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ và tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng hiệu quả thực tế. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại 4 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2021. Đề tài hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh đạt mức độ đọc hiểu tự chủ từ dưới 25% lên trên 70%, đồng thời kéo giảm tỷ lệ học sinh lúng túng khi xử lý tình huống nghịch lý trong tác phẩm xuống dưới 15%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết tiếp nhận văn học hiện đại của các nhà nghiên cứu Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử và Nguyễn Thanh Hùng, khẳng định bạn đọc là chủ thể đồng sáng tạo và văn bản chỉ thực sự hoàn thiện khi có sự tương tác tích cực của người đọc. Đồng thời, luận văn kết hợp lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget và khung đánh giá năng lực của chương trình PISA, xác định học sinh lứa tuổi 12 đến 18 đã có bước tiến lớn về tư duy trừu tượng, tư duy phản biện và khả năng suy luận logic.

Mô hình nghiên cứu định hình cấu trúc năng lực đọc hiểu văn bản gồm 4 thành tố cốt lõi: năng lực nhận biết thông tin và đặc điểm hình thức văn bản; năng lực kết nối thông tin để kiến tạo ý nghĩa; năng lực phản hồi, đánh giá giá trị tư tưởng và nghệ thuật; năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn đời sống và đọc hiểu các văn bản cùng thể loại. Khung lý thuyết này gắn chặt với thi pháp truyện ngắn sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu với 3 đặc trưng nổi bật: kiểu nhân vật tư tưởng - số phận, tình huống nhận thức mang tính nghịch lý và giọng điệu trần thuật chiêm nghiệm đa thanh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ khảo sát thực tế đội ngũ giáo viên Ngữ văn và học sinh tại 4 trường trung học huyện Bình Giang, kết hợp phân tích hệ thống sách giáo khoa, sách giáo viên và kế hoạch bài dạy môn Ngữ văn lớp 9 và lớp 12.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 42 giáo viên Ngữ văn thuộc các tổ chuyên môn và 360 học sinh trung học. Trong giai đoạn thực nghiệm, 360 học sinh được chia đều thành nhóm thực nghiệm gồm 180 học sinh và nhóm đối chứng gồm 180 học sinh có học lực tương đương. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng thuận tiện kết hợp ngẫu nhiên có kiểm soát tại các trường đại diện cho cả khối trung học cơ sở và trung học phổ thông, đảm bảo tính đại diện cao về môi trường giáo dục và năng lực ban đầu của người học.

Phương pháp phân tích được kết hợp chặt chẽ giữa định tính và định lượng. Nghiên cứu sử dụng phân tích định tính để mổ xẻ cấu trúc bài học, giáo án và quan sát hành vi học tập; đồng thời áp dụng phương pháp định lượng qua thống kê mô tả, phân loại thang điểm và kiểm định sự sai khác tỷ lệ phần trăm giữa các nhóm. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan tuyệt đối, đo lường chính xác từng chỉ số tăng trưởng năng lực thay vì đánh giá định tính cảm tính. Quá trình nghiên cứu kéo dài 24 tháng, từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 8 năm 2021, chia làm 3 giai đoạn: xây dựng cơ sở lý thuyết và khảo sát trong 10 tháng đầu, thiết kế bài học và thực nghiệm trong 10 tháng tiếp theo, và 4 tháng cuối dành cho việc xử lý số liệu và hoàn thiện luận văn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng cho thấy 92,8% giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh, nhưng chỉ có khoảng 14,3% giáo viên thường xuyên sử dụng các biện pháp đọc hiểu tích cực như ghi chú bên lề hay kết nối trải nghiệm. Nguyên nhân là do áp lực thời lượng chỉ từ 2 đến 3 tiết cho mỗi văn bản và sự thiếu vắng các công cụ học tập có tính gợi dẫn. Về phía học sinh, trước khi can thiệp, có tới 64,2% học sinh thừa nhận tiếp nhận tác phẩm một cách thụ động, chỉ 18,3% học sinh có khả năng tự phát hiện và giải mã tình huống nghịch lý trong văn bản Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa.

Sau khi triển khai các biện pháp sư phạm mới, kết quả đo nghiệm tại các lớp thực nghiệm đã tạo nên bước đột phá rõ rệt so với lớp đối chứng. Điểm số kiểm tra trung bình của nhóm thực nghiệm đạt 7,85 điểm, vượt trội so với mức 6,42 điểm của nhóm đối chứng, tạo mức chênh lệch tăng trưởng 22,3%.

Cơ cấu xếp loại năng lực của học sinh có sự phân hóa mạnh mẽ. Nhóm lớp thực nghiệm ghi nhận tỷ lệ học sinh đạt mức độ tốt và khá lên tới 72,5%, trong khi nhóm đối chứng chỉ đạt 41,2% (chênh lệch 31,3%). Ngược lại, tỷ lệ học sinh ở mức trung bình và yếu tại nhóm thực nghiệm giảm sâu từ mức ban đầu 27,5% xuống chỉ còn 2,5%, trong khi ở nhóm đối chứng con số này vẫn duy trì ở mức cao là 16,8%.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của nhóm thực nghiệm bắt nguồn từ việc học sinh được hướng dẫn tiếp cận văn bản theo quy trình 3 giai đoạn trước khi đọc, trong khi đọc và sau khi đọc. Khi được hỗ trợ bởi hệ thống phiếu học tập phân hóa và kỹ thuật học tập hợp tác, học sinh trung học từ 14 đến 18 tuổi đã phát huy tối đa tư duy trừu tượng, chủ động kết nối chi tiết chiếc bãi bồi bên kia sông Hồng hay bức ảnh thuyền biển trong sương sớm với những trải nghiệm thực tế đời thường. Học sinh không còn học vẹt mà thực sự sống cùng tác phẩm, tự đối thoại và tìm ra chân lý nhân sinh.

So sánh với các công trình nghiên cứu của Đỗ Ngọc Thống và Phạm Thị Thu Hương, kết quả của luận văn khẳng định tính đúng đắn của việc chuyển đổi phương pháp dạy đọc hiểu theo hướng tiếp cận năng lực. Khi học sinh được trao quyền tự chủ kiến tạo nghĩa, khả năng cảm thụ thẩm mỹ và tư duy phản biện của các em tăng trưởng vượt bậc.

Về phương diện trực quan hóa dữ liệu, các phát hiện thực nghiệm có thể được mô tả sinh động thông qua biểu đồ cột kép biểu diễn sự chênh lệch điểm trung bình giữa hai nhóm lớp, kết hợp cùng biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu chuyển dịch mức độ năng lực. Bên cạnh đó, một bảng ma trận tổng hợp 4 mức độ năng lực gồm nhận biết, kết nối kiến tạo nghĩa, đánh giá phản hồi và vận dụng thực tiễn sẽ cung cấp cái nhìn chi tiết về tốc độ tiến bộ của học sinh qua từng tuần học, giúp giáo viên nắm bắt chính xác mức độ đạt chuẩn đầu ra của từng cá nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết kế và chuẩn hóa hệ thống phiếu học tập định hướng đọc hiểu theo quy trình 3 giai đoạn. Tổ chuyên môn Ngữ văn tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông giữ vai trò chủ thể thực hiện, hoàn thành ngay trong học kỳ 1 năm học 2021-2022. Target metric là đạt 100% tiết dạy truyện ngắn hiện đại áp dụng bộ phiếu học tập gợi dẫn, bảo đảm ít nhất 80% học sinh hoàn thành nhiệm vụ tự học trước khi lên lớp.

Thứ hai, kết hợp linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực như khăn trải bàn, sơ đồ tư duy, đóng vai và dạy học giải quyết vấn đề. Giáo viên bộ môn Ngữ văn là chủ thể trực tiếp triển khai trong suốt giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2023. Target metric là nâng thời lượng học sinh trực tiếp thảo luận và tương tác đa chiều lên tối thiểu 40% tổng thời gian của mỗi tiết dạy trên lớp.

Thứ ba, xây dựng và tổ chức tập huấn bộ công cụ đánh giá năng lực đọc hiểu theo thang đo rubric định lượng. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các trường đại học sư phạm tổ chức thực hiện trong vòng 6 tháng đầu năm học 2021-2022. Target metric là đạt 85% giáo viên sử dụng thành thạo rubric đánh giá 4 mức độ năng lực, thực hiện phản hồi định kỳ cho học sinh sau mỗi chu kỳ 2 tuần giảng dạy.

Thứ tư, mở rộng không gian trải nghiệm văn học thông qua các hoạt động ngoại khóa như câu lạc bộ đọc sách, diễn đàn văn học và sân khấu hóa tác phẩm. Đoàn Thanh niên phối hợp với Ban Giám hiệu các nhà trường duy trì hoạt động định kỳ hàng tháng từ năm 2022 đến năm 2025. Target metric là thu hút trên 65% học sinh toàn trường tham gia sáng tạo kịch bản, viết thu hoạch và chia sẻ cảm thụ văn học ngoài giờ học chính khóa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giáo viên dạy môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông tìm thấy trong luận văn quy trình đọc hiểu 3 giai đoạn chi tiết cùng 2 giáo án thực nghiệm mẫu bài Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa. Use case điển hình là ứng dụng trực tiếp hệ thống phiếu học tập vào khoảng 6 đến 8 tiết dạy văn bản truyện ngắn mỗi học kỳ, giúp tăng tỷ lệ học sinh hứng thú học tập lên trên 80%.

Nhóm cán bộ quản lý chuyên môn và tổ trưởng chuyên môn các trường phổ thông có thể khai thác khung cấu trúc năng lực và hệ thống tiêu chí đánh giá định lượng. Use case cụ thể là sử dụng thang đo rubric để tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng phương pháp dạy học mới cho khoảng 15 đến 20 giáo viên trong cụm trường, chuẩn hóa quy trình đánh giá học sinh theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Nhóm sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành phương pháp dạy học Ngữ văn kế thừa hệ thống cơ sở lý luận kết hợp giữa thi pháp học truyện ngắn sau năm 1975 và tâm lý học lứa tuổi 12 đến 18. Use case là tham khảo mô hình thiết kế nghiên cứu thực nghiệm sư phạm và phương pháp thống kê toán học để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu ở bậc thạc sĩ và tiến sĩ.

Nhóm tác giả biên soạn chương trình, sách giáo khoa và sách bài tập tham khảo nguồn dữ liệu khảo sát thực chứng về những khó khăn của giáo viên và học sinh đối với hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa hiện hành. Use case là tối ưu hóa hệ thống bài tập đọc hiểu mở, điều chỉnh khoảng 40% câu hỏi hướng dẫn theo hướng phát triển năng lực tư duy phản biện trong các tài liệu bổ trợ.

Câu hỏi thường gặp

Việc chuyển dịch từ giảng văn truyền thống sang phát triển năng lực đọc hiểu mang lại lợi ích cốt lõi nào cho học sinh? Phương pháp giảng văn truyền thống biến học sinh thành người tiếp nhận thụ động, dẫn đến hơn 64% học sinh phụ thuộc vào bài mẫu. Ngược lại, dạy đọc hiểu phát triển năng lực giúp học sinh làm chủ kỹ năng tiếp nhận văn bản, hình thành tư duy độc lập và có khả năng vận dụng bài học vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống.

Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 có ưu thế gì trong việc rèn luyện năng lực đọc hiểu? Sáng tác của Nguyễn Minh Châu giai đoạn này đậm chất đời tư thế sự với hệ thống tình huống nhận thức và nghịch lý sâu sắc như bi kịch của nhân vật Nhĩ hay nghịch lý người đàn bà hàng chài. Những chất liệu hiện thực này kích thích mạnh mẽ học sinh lứa tuổi 14 đến 18 suy ngẫm đa chiều và tự soi chiếu bản thân.

Bộ phiếu học tập trong luận văn hỗ trợ học sinh giải mã văn bản như thế nào? Phiếu học tập được thiết kế thành chuỗi câu hỏi gợi mở theo tiến trình trước, trong và sau khi đọc. Công cụ này định hướng học sinh tự ghi chú bên lề, phân tích hình ảnh biểu tượng và kết nối trải nghiệm cá nhân. Thực nghiệm cho thấy phiếu học tập giúp 72,5% học sinh nắm vững bản chất tác phẩm mà không cần giáo viên thuyết trình áp đặt.

Thang đo rubric đánh giá năng lực đọc hiểu được thiết kế theo những tiêu chuẩn nào? Thang đo rubric gồm 4 tiêu chí: nhận biết đặc điểm thể loại, phân tích kết nối ý nghĩa, đánh giá thông điệp và vận dụng thực tiễn. Mỗi tiêu chí được chia thành 4 mức độ rõ ràng ứng với thang điểm từ 1 đến 10, giúp giáo viên lượng hóa chính xác mức độ tiến bộ của học sinh sau mỗi bài học.

Hiệu quả thực tế của các biện pháp đề xuất được minh chứng qua những số liệu nào? Tính hiệu quả được khẳng định qua điểm kiểm tra trung bình của nhóm thực nghiệm đạt 7,85 điểm, cao hơn 1,43 điểm so với nhóm đối chứng (đạt 6,42 điểm). Đồng thời, tỷ lệ học sinh đạt mức khá và tốt ở lớp thực nghiệm chiếm 72,5%, cao hơn 31,3% so với lớp đối chứng chỉ đạt 41,2%.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý luận về năng lực đọc hiểu và đặc trưng thi pháp truyện ngắn sau năm 1975 của nhà văn Nguyễn Minh Châu, tạo điểm tựa khoa học vững chắc cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy Ngữ văn.
  • Khảo sát sâu sát thực trạng dạy học tại 4 trường trung học huyện Bình Giang với cỡ mẫu 42 giáo viên và 360 học sinh, chỉ rõ những khoảng trống về kỹ thuật đọc hiểu và công cụ đánh giá.
  • Đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ gồm quy trình 3 giai đoạn đọc hiểu, bộ phiếu học tập định hướng và thang đo rubric định lượng, bám sát các yêu cầu cần đạt của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
  • Kiểm chứng tính khả thi qua thực nghiệm sư phạm, nâng điểm trung bình của học sinh thêm 22,3% và gia tăng tỷ lệ xếp loại khá giỏi lên mức 72,5%.
  • Cung cấp hai kế hoạch bài dạy mẫu chi tiết cho tác phẩm Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa, làm tài liệu tham khảo trực tiếp có giá trị ứng dụng cao cho giáo viên phổ thông.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là đã cụ thể hóa các lý thuyết tiếp nhận văn học trừu tượng thành các công cụ sư phạm khả thi, giúp giáo viên dễ dàng tổ chức giờ học phát triển năng lực người học. Về kế hoạch tiếp theo, mô hình này dự kiến sẽ được nhân rộng tại 15 trường trung học trên địa bàn tỉnh trong vòng 12 đến 24 tháng tới, kết hợp số hóa hệ thống phiếu học tập lên nền tảng dạy học trực tuyến. Các nhà trường và giáo viên Ngữ văn hãy chủ động áp dụng các giải pháp này vào thực tế giảng dạy ngay hôm nay để biến mỗi giờ đọc hiểu tác phẩm thành không gian đối thoại và kiến tạo tri thức đầy hứng khởi cho học sinh.