phần mở đầu, phần kết luận - khuyến nghị và tài liệu tham khảo, phần chính luận văn gồm ba chương: CHƢƠNG 1: Cơ sở khoa học của việc phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 12 trong dạy học truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu. CHƢƠNG 2: Tổ chức dạy học truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu cho học sinh lớp 12 nhằm phát triển năng lực đọc hiểu văn bản. CHƢƠNG 3: Thực nghiệm sư phạm 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN "CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH CHÂU.
Năng lực và phát triển năng lực đọc hiểu văn bản 1.1 Khái niệm năng lực Khái niệm NL (competence) đã được con người biết đến từ lâu, nhưng chỉ đến những năm 70 của thế kỉ XX, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, khái niệm này mới được tập trung nghiên cứu ở nhiều phương diện khác nhau như triết học, tâm lí học, kinh tế học, giáo dục học, xã hội học. Đáng chú nhất là định nghĩa về NL của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD): năng lực là khả năng đáp ứng thành công những yêu cầu phức tạp trong một bối cảnh cụ thể thông qua việc huy động những tiền đề về mặt tâm lí xã hội (bao gồm cả khía cạnh nhận thức và phi nhận thức [60]; và định nghĩa của tác giả F. Weinert: năng lực là tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp [dẫn theo 34]. Ở Việt Nam, khái niệm NL cũng được định nghĩa bởi nhiều tác giả.
Theo Từ điển Tiếng Việt (1998), NXB Đà Nẵng thì: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực cũng là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Tác giả Đặng Thành Hưng định nghĩa : Năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [ dẫn theo 11].
Phân tích tất cả những định nghĩa trên, tác giả Hoàng Hòa Bình đã đưa một khái niệm năng lực toàn diện hơn : năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Hai đặc trưng cơ bản của năng lực là : 1) Được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động; 2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn. Đối chiếu các định nghĩa về NL của các tác giả trong nước và nước ngoài, có thể khẳng định: NL là khả năng thực hiện thành công một hoạt động của con người nhờ sự huy động tổng hợp nhiều thành tố như kiến thức, kĩ năng, phẩm chất cá nhân. Cấu trúc năng lực Có thể tìm hiểu cấu trúc của NL trên hai phương diện: dựa trên nguồn lực hợp thành NL và theo NL bộ phận.
Tiêu biểu cho cách tiếp cận cấu trúc NL dựa trên nguồn lực hợp thành là tác giả F. Ông cho rằng NL gồm ba yếu tố cấu thành là khả năng, kĩ năng, thái độ sẵn sàng tham gia hoạt động của cá nhân. Có thể gọi đây là những nguồn lực bên trong của mỗi cá nhân. Chương trình giáo dục trung học của bang Quesbec không chỉ đề cao những nguồn lực bên trong mà còn bổ sung thêm một số nguồn lực bên ngoài như bạn cùng lớp, thầy giáo, cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác [dẫn theo 34].
Cùng tiếp cận cấu trúc NL dựa trên nguồn lực hợp thành, tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng cấu trúc NL bao gồm ba thành tố cơ bản là tri thức, kĩ năng và hành vi biểu cảm (thái độ), trong đó yếu tố cốt lõi trong bất cứ năng lực cụ thể nào là kĩ năng [32]. Cấu trúc năng lực trên được tác giả Đặng Thành Hưng thể hiện qua sơ đồ hdưới đây: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực phát triển (sáng tạo) Năng lực hiểu Năng lực làm Năng lực cảm Tri thức - Trí tuệ Kĩ năng - Kĩ xảo Tình cảm- Giá trị Hình 1. Cấu trúc năng lực của tác giả Đặng Thành Hƣng Đi sâu vào nghiên cứu, tác giả Hoàng Hòa Bình tiếp tục đưa ra một cấu trúc năng lực tổng hợp và toàn vẹn hơn, bao gồm hai nguồn lực lớn là nguồn lực đầu vào và nguồn lực đầu ra [11]: Cấu trúc bề mặt (Đầu vào) Kiến thức Kĩ năng Thái độ NL hiểu NL làm NL ứng xử Cấu trúc bề sâu (Đầu ra) Hình 1. Cấu trúc năng lực của tác giả Hoàng Hoà Bình Cấu trúc NL trên giúp những người làm giáo dục nhận ra : việc giáo dục HS không chỉ tập trung vào mục tiêu cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và tổ chức đánh giá những mặt đó mà còn phải hình thành, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển, kiểm soát, đo lường được các chỉ số đầu ra.
Nghĩa là để phát triển NL cho người học, GV không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng, thái độ, bồi dưỡng thái độ sống đúng đắn mà còn phải làm cho những kiến thức sách vở trở thành hiểu biết thực sự của mỗi HS, đưa những kĩ năng được ứng dụng, thực hành trên lớp vào đời sống, biến nhà trường thành môi trường để HS bộc lộ, hình thành, phát triển các hành vi ứng xử của mình từ đó mà hình thành nhân cách, phẩm chất vững bền cho các em. Cấu trúc NL trên cũng chỉ ra: đầu vào của NLĐHVB chính là kiến thức, kĩ năng, thái độ về văn bản về môi trường sống, về tri thức vốn có của các em. Đầu ra của NLĐHVB chính là kết quả của khả năng hiểu, cảm nhận văn bản và ứng dụng văn bản vào đời sống. Hướng tiếp cận thứ hai để tìm ra cấu trúc NL là dựa theo các nguồn lực hợp thành.
Theo quan điểm của tác giả Hoàng Hòa Bình: Mỗi năng lực chung hoặc đặc thù đều được phân tích thành các năng lực bộ phận. Tiếp theo mỗi năng lực bộ phận lại được phân tích thành các năng lực bộ phận ở bậc thấp hơn, cụ thể hơn cho đến khi xác định được các hành vi thể hiện ra bên ngoài của chúng[11]. Bộ Giáo dục và Đào tạo với chủ trương từng bước đổi mới, chuyển nền giáo dục định hướng nội dung sang nền giáo dục định hướng năng lực cho người học đã cụ thể hóa các năng lực thành hai bộ phận : 1) Các năng lực chung cốt lõi, bao gồm: Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân: năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực tư duy; năng lực tự quản lí. Nhóm năng lực quan hệ xã hội: năng lực giao tiếp; năng lực hợp tác.
Nhóm năng lực công cụ: năng lực công nghệ thông tin và truyền thông; năng lực sử dụng ngôn ngữ; năng lực tính toán. 2) Các năng lực chuyên biệt bao gồm: năng lực chuyên biệt dành cho môn Toán, năng lực chuyên biệt dành cho môn Văn, năng lực chuyên biệt dành cho môn Ngoại ngữ. Nghĩa là mỗi môn học trong nhà trường đều có những 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng lực chuyên biệt khác nhau. Cơ sở để xác định các năng lực chuyên biệt là các năng lực chung cốt lõi.
Ví dụ, một trong những năng lực chuyên biệt của môn Toán là tính toán, một trong những năng lực chuyên biệt của môn Văn là đọc hiểu văn bản, tạo lập văn bản [3]. Thông qua cách tiếp cận cận cấu trúc NL theo NL bộ phận có thể thấy NL ĐHVB chính là năng lực chuyên biệt trong cấu trúc NL nói chung và NLĐHVB tạo điều kiện để HS hình thành và phát triển hai nhóm NL chung cốt lõi là nhóm NL quan hệ xã hội và nhóm NL công cụ. Mối quan hệ trên là một trong những tiền đề lí luận quan trọng để chúng tôi nghiên cứu đề tài "Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 12 trong dạy học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu". Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản 1.
Khái niệm văn bản Trong Từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên, văn bản có thể hiểu theo hai nghĩa: nghĩa thông dụng là: bản viết hoặc in, mang nội dung là những gì cần được ghi để lưu lại làm bằng; nghĩa chuyên môn là: chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay nói chung là những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn. SGK Ngữ văn 10 Nâng cao, bài Văn bản khẳng định: Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, nói phải nói thành lời, viết phải viết thành bài. Lời nói và bài viết đó là văn bản. Như vậy, văn bản vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Văn bản thường do nhiều câu kết hợp với nhau tạo thành, như bài thơ, bài báo, đơn xin việc, giấy mời họp. Văn bản có thể ngắn dài khác nhau [ dẫn theo 31]. Ở một số chương trình giáo dục nước ngoài, khái niệm văn bản được mở rộng hơn, phù hợp với sự phát triển vượt bực của công nghệ thông tin hiện nay. Tiêu biểu như Chương trình giáo dục của Úc, định nghĩa: Văn bản là phương tiện giao tiếp.
Những hình thức và quy ước của văn bản được phát triển để giúp chúng ta giao tiếp một cách hiệu quả với nhiều người khác nhau 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vì những mục đích khác nhau. Văn bản có thể được viết, nói, đa phương thức và có thể dưới dạng in hay dạng số hoặc trực tuyến. Văn bản đa phương thức có sự kết hợp của ngôn ngữ với phim hay các phương tiện truyền thông và máy tính [ dẫn theo 31].