CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC MÔN LÝ LUẬN DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài 1. Một số nghiên cứu về năng lực dạy học 1. Những nghiên cứu về năng lực Năng lực là tập hợp toàn bộ những kỹ năng, kiến thức, hành vi của con người có thể đáp ứng để cá nhân có thể thực hiện, và hoàn thành có hiệu quả một công việc nhất định nào đó.
Năng lực là yếu tố để phân biệt người này với người kia. Khi chú trọng đến tính cấu trúc của năng lực thì Barnett cho rằng “năng lực là tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp cho một hoạt động thực tiễn” [15]. Khi chú trọng đến tính thực hành của năng lực thì Rogier cho rằng “năng lực là khả năng sử dụng các kiến thức, kỹ năng trong một tình huống có nghĩa” [81]. Denys Tremblay, nhà Tâm lý học ngưới Pháp quan niệm “năng lực là khả năng hành động đạt được thành công, và chứng minh sự tiến bộ vào khả năng huy động, sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [66].
Theo OECD thì “năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng yêu cầu phức tạp, và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể” [17]. Hay “năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo cho việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [46] Theo quan niệm khác năng lực được hiểu là “khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cách phù hợp, và hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” [Québec Ministere de I’Education]. Năng lực là “đặc điểm cá nhân thể hiện mức độ thông thạo, tức là có thể thực hiện một cách thuần thục, chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó, năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí tuệ, tính nhạy cảm, tính cách của cá nhân” [15]. Một quan niệm khác “năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo các phẩm chất của cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định.
Năng lực có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc trong quá trình lĩnh hội từ một hành động mới nào đó. Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao như nhau trong các hoàn luan an 11 cảnh khách quan hay chủ quan” [41]. Qua nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực, tác giả đã xác định bản chất của năng lực là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một hoạt động nào đó, bắt đầu từ phân tích những yêu cầu của hệ thống hành động, tương ứng với vai trò, vị trí của cá nhân trong hoạt động đó. Giáo dục tại nhiều quốc gia và các tổ chức giáo dục quốc tế, đã thiết kế khung NL để làm tham chiếu trong lĩnh vực nghề nghiệp, từ đây nhận thấy rằng NL là một tập hợp kỹ năng phức hợp, phức tạp chứa đựng những đặc trưng thuộc chuyên môn từng lĩnh vực nghề nghiệp và những đặc trưng về thuộc tính tâm lý của cá nhân.
Trong đó có một số phẩm vật chất không phải bao giờ được gọi là NL, nhưng nếu thiếu chúng thì các thuộc tính khác của cá nhân không có hiệu lực, mặc dù các thuộc tính đó dễ dàng xếp vào phạm trù NL. Từ đó có thể xác định những đặc trưng cơ bản cho NL của GV gồm những phẩm chất như ý chí, tư tưởng, tính cách, và những NL thực hiện như NL ngôn ngữ, NL hoạt động, NL tổ chức và NL giao tiếp. Những nghiên cứu về năng lực dạy học Năng lực dạy học là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học có chất lượng, có hiệu quả. Tuy nhiên NL có tính riêng lẻ và tính cụ thể còn NLDH có tính chất tổng hợp và khái quát.
Nếu NLDH đạt mức thành thạo thì NL thao tác đạt mức độ cao và được xem là NL tinh thông nghề nghiệp nào đó. Vào những năm 70 Iu. Bondurev tham gia nghiên cứu công trình tổ chức lao động khoa học và nghiên cứu phương thức có thể tối ưu hóa QTDH. Những nghiên cứu đã có nhiều đóng góp rất quan trọng cho ngành GD, đã giải quyết vấn đề về phát triển NL sư phạm của GV, và đưa ra cấu trúc NLDH gồm 08 NL thành phần như sau:1.
Năng lực dạy học, là NL truyền đạt nội dung học tập, tạo hứng thú cho SV đối với môn học, kích thích SV tự giác suy nghĩ độc lập; 2. Năng lực khoa học, là khả năng tham gia nghiên cứu khoa học tương ứng mở rộng, theo dõi những phát minh mà bản thân quan tâm; 3. Năng lực nhận biết, là NL mà GV có thể đi sâu vào thế giới tâm hồn của HS, quan sát HS cùng với sự thấu hiểu tinh tế về tâm lý của HS; 4. Năng lực ngôn ngữ, là khả năng biểu đạt rõ ràng những ý nghĩ, cảm xúc bằng ngôn ngữ nói, hoặc ngôn ngữ hình thể làm cho SV hiểu được nội dung thông tin muốn truyền đạt, đây là NL khá quan trọng của nghề DH; 5.
Năng lực tổ chức hoạt động, là NL tổ chức các hoạt động học tập, sinh hoạt tập thể cho SV, giải quyết nhiệm vụ quan trọng trong QTDH; 6. Năng lực giao tiếp, là NL tạo dựng quá trình tương tác luan an 12 với HS, giao tiếp với đồng nghiệp và các LLGD có liên quan, là NL ứng xử và có thể nhận ra những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lí bên trong của HS; 7. Năng lực phân phối sự chú ý, là NL quan sát đối tượng DH, biểu hiện tính mục đích, tính kiên trì, GV nhận ra thái độ và hiểu được nhu cầu của HS; 8. Năng lực xây dựng uy tín và tưởng tượng sư phạm là NL gây ảnh hưởng trực tiếp về mặt tình cảm, ý chí của HS, biểu hiện tính kiên quyết, tính kiên nhẫn và tính yêu cầu cao của GV.
Ngoài ra người GV còn có NL tưởng tượng sư phạm, thể hiện ở sự nhìn thấy trước rủi ro, những mâu thuẫn, dự đoán sự tiến triển tình huống, nó gắn liền với sự lạc quan sư phạm và niềm tin vào con người [39]. Vào thập niên 80 của thế kỷ 20 A. Petrovski đã khẳng định các yếu tố cấu thành cho NLDH của GV là những NL sư phạm và phong cách DH, đảm bảo cho hoạt động của GV được phát triển tốt, qua việc vận dụng những kỹ năng DH vào các tình huống khác nhau gồm NL thiết kế bài học, NL tổ chức hoạt động DH, các NL truyền đạt thông tin, NL giao tiếp [46]. Theo quan điểm của nhà lý luận dạy học Iu.
Babanxki cho rằng DH chính là hoạt động điều khiển nhận thức cho người học, đã chia NLDH của GV thành ba nhóm: Nhóm thứ nhất là nhóm NLDH kích thích và xây dựng động cơ học tập cho người học; Nhóm thứ hai là nhóm NLDH tổ chức và thực hiện hoạt động học tập cho người học; Nhóm thứ ba là nhóm NL kiểm tra đánh giá hoạt động học [36]. Babanxki khẳng định tất cả các nhóm NLDH này rất cơ bản và cần thiết cho GV có thể đảm trách tốt việc dạy học Đầu những năm thập niên 90 công trình khoa học đáng chú ý của Nguyễn Như An (1992), nghiên cứu “hệ thống kỹ năng giảng dạy trên lớp về môn Giáo dục học và quy trình rèn luyện các kỹ năng đó cho sinh viên khoa Tâm lý - Giáo dục” – luận án đã giải quyết các vấn đề liên quan đến hệ thống các kỹ năng giảng dạy và quy trình rèn luyện kỹ năng [2]. Đây là công trình khoa học nghiên cứu về KNDH cơ bản có tính hệ thống, chỉ tập trung việc thực hành kỹ năng giảng dạy môn Giáo dục học nói chung, chưa có ý tưởng nghiên cứu về hệ thống NLDH cho Lý luận dạy học nói riêng. Năm 1996 với những số liệu thực nghiệm của tác giả Trần Anh Tuấn cho đề tài luận án “Xây dựng quy trình tập luyện các kỹ năng giảng dạy cơ bản trong các hình thức thực hành, thực tập sư phạm”, tác giả đã phân tích những nhược điểm của hoạt động giảng dạy trong các trường sư phạm, đồng thời đưa ra quy trình tập luyện các KNDH cơ bản.
Tuy đề tài chưa đề cập về hướng phát triển NL giảng dạy ở đại học, luan an 13 nhưng đã đề xuất được quá trình rèn luyện KNDH rất cơ bản như KN phân tích bài học, KN thiết kế bài học, KN tổ chức bài học, và kỹ năng ĐG kết quả học tập [57]. Công trình cho thấy định hướng cần thiết về bồi dưỡng KNDH của GiV thực hiện công tác giảng dạy tại các trường đại học Tác giả Vũ Xuân Hùng với đề tài nghiên cứu “Năng lực dạy học của giáo viên dạy nghề theo tiếp cận năng lực thực hiện”, từ quan niệm về DH tiếp cận NL thực hiện tác giả đã phân tích sâu và đưa ra NLDH của GV gồm 04 NL thành phần như: Năng lực thiết kế dạy học; Năng lực tiến hành dạy học; Năng lực KT- ĐG; Năng lực quản lý dạy học [27]. Theo Trương Đại Đức (2011), đề tài “Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên dạy thực hành ở các trường dạy nghề khu vực miền núi phía Bắc”, tác giả nghiên cứu thực trạng NLDH và thực trạng bồi dưỡng NLDH của GV, trong đó tác giả đã xây dựng được cơ sở lý luận để phát triển NLDH cho GV, xây dựng hệ thống cấu trúc NLDH và thiết lập các tiêu chí đánh về NLDH [14]. Qua tham khảo các công trình trên tác giả luận án đã rút ra mô hình về cấu trúc NLDH cơ bản và cần thiết được hình thành và phát triển cho giáo sinh ở trường sư phạm để có thể đáp ứng yêu cầu dạy học chương trình giáo dục mới Tác giả Phạm Thành Nghị cho rằng NLDH của GV có 05 năng lực thành phần: 1.
Năng lực hiểu biết kiến thức chuyên ngành bộ môn DH, đòi hỏi GV phải là chuyên gia về lĩnh vực mà bản thân tham gia giảng dạy, có khả năng tham gia NCKH, ứng dụng chuyên ngành vào thực tiễn; 2. Năng lực tổ chức QTDH, đòi hỏi GV có một số NL như xác định mục tiêu DH, thiết kế kế hoạch bài học, xây dựng bài tập cho hoạt động rèn luyện HS; 3.