CHƯƠNG 1. Màng mỏng ô xít kim loại bán dẫn Màng mỏng ô xít kim loại bán dẫn là vật liệu bán dẫn có độ dày từ vài nanomet đến vài micromet, được phủ lên một bề mặt nền, thường được gọi là “đế”. Để hiểu rõ hơn các tính chất của màng mỏng ô xít kim loại bán dẫn, trước hết chúng ta cần phần biệt sự khác nhau giữa: chất bán dẫn, chất dẫn điện, chất cách điện. Các chất dẫn điện là các chất cho phép dòng điện chạy qua dễ dàng, dó có điện trở thấp.
Ví dụ về các chất dẫn điện điển hình như: đồng, nhôm. Ngược lại, các chất cách điện là các chất cản trở dòng điện, do có điện trở cao. Ví dụ về các chất cách điện bao gồm cao su, thủy tinh. Còn chất bán dẫn là các chất có sự dẫn điện nằm giữa chất dẫn điện và chất cách điện.
Chúng có điện trở vừa phải và có thể bị thay đổi bởi các yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng hoặc sự hiện diện của các tạp chất (pha tạp). Tính chất điện của các vật liệu này được xác định bởi cấu trúc vùng năng lượng của điện tử trong mạng nguyên tử của chúng, cụ thể là sự sắp xếp của các điện tử trong các dải năng lượng. Trong các chất cách điện, ở đó tồn tại một khoảng cách lớn giữa đáy của vùng dẫn và đỉnh của vùng hóa trị, khoảng cách này được gọi là bề rộng vùng cấm (E g) như Hình 1a, do đó các điện tử rất khó di chuyển lên vùng dẫn (đây là nguyên nhân dẫn đến việc các chất cách điện cản trở dòng điện). Ngược lại với chất dẫn điện (điển hình là kim loại), vùng dẫn và vùng hóa trị chồng chập lẫn nhau như ở Hình 1b vì vậy các điện tử có thể di chuyển dễ dàng trong vùng dẫn, do đó chúng cho phép dòng điện đi qua.
Trong khi đó, các chất bán dẫn có bề rộng vùng cấm nhỏ như ở Hình 1c, đủ để các điện tử có thể di chuyển từ vùng hóa trị lên vùng dẫn bằng cách kích thích từ bên ngoài như: chiếu sáng, nhiệt độ, pha tạp, v.v… Điều này khiến chất bán dẫn có thể thay đổi được điện trở như đã đề cập ở trên, do dó chúng có những đặc tính khá riêng biệt so với các chất dẫn điện và cách điện. Một trong số chất bán dẫn điển hình có thể kể đến như Sillic (Si), GaAs, Ge hay InP. Độ linh động của các hạt tải tự do như điện tử hay lỗ trống phụ thuộc nhiều vào cấu trúc tinh thể, nồng độ pha tạp, và cả cấu trúc nano của vật liệu (2D, 1D). Tuy nhiên, giá trị độ linh động của hạt tải trong các chất bán dẫn truyền thống thường rất lớn (có thể đến hàng nghìn cm2/Vs).
Ngược lại, các 5 chất bán dẫn ô xít kim loại thường có độ linh động khiêm tốn (1 – 100 cm2/Vs, tùy loại vật liệu, độ sạch và cấu trúc tinh thể của chúng). a) b) c) Điện tử tự do Lỗ trống tự do Vùng dẫn Năng lượng Năng lượng Năng lượng Vùng dẫn Eg : độ rộng vùng cấm lớn Vùng dẫn Vùng hóa trị Vùng hóa trị Vùng hóa trị Chất dẫn điện Chất bán dẫn Chất cách điện Hình 1. Cấu trúc vùng năng lượng của kim loại (a), chất bán dẫn (b) và chất cách điện (c). Hình ảnh mô tả mật độ các hạt tải tự do ở nhiệt độ phòng.
Các ô xít kim loại bán dẫn có tính chất khác biệt như vậy là do các liên kết bên trong của chúng. Các chất loại này thường liên kết với nhau bởi liên kết ion thay vì liên kết cộng hóa trị, như xuất hiện ở Si. Khác với cấu trúc nguyên tử của Si, đối với các ô xít kim loại bán dẫn, liên kết ion được tạo ra khi nguyên tử kim loại (M) (giả sử có 2 điện tử ở lớp ngoài cùng) trao đổi điện tử với nguyên tử oxy (O) để tạo thành các cation M2+ và anion O2-. Lúc này, orbital p của ion oxy (O) được lấp đầy bởi 2 điện tử từ orbital s của ion kim loại (M).
Chính sự trao đổi điện tử này đã hình thành cấu trúc vùng năng lượng của ô xít kim loại như ở Hình 2a, trong đó: đáy của vùng dẫn và đỉnh của vùng hóa trị chứa lần lượt mức năng lượng orbital ns của kim loại và mức năng lượng orbital 2p của oxy. Bề rộng vùng cấm của các ô xít kim loại có thể thay đổi tùy vào vật liệu: VO2 (0.8 eV), như được mô tả ở Hình 2a. Các ô xít thông dụng nhất thường có vùng cấm rộng (> 3 eV), trong suốt trong vùng khả kiến. Hình 2b mô tả cấu trúc orbital của các ô xít kim loại, trong đó các orbital 2p của nguyên tử oxy có dạng hình số tám nổi và các orbital ns của nguyên tử kim loại có dạng hình cầu, chúng chồng chập lẫn nhau giúp các điện tử có thể di chuyển dễ dàng.
Đây là nguyên nhân chính dẫn tới, điện tử có khối lượng hiệu dụng nhỏ hơn so với khối lượng hiệu dụng của lỗ trống. 6 Bảng 1 tổng hợp khối lượng hiệu dụng của một số ô xít kim loại bán dẫn loại n và loại p. Năng lượng a) a) (eV) Tử M2+ ngoại - - M (ns) - - 3,1 Khả O2- kiến - - - - - - - Eg O (2p) - - - - - - - 1,7 Hồng ngoại b) O: orbital 2p b) e - M: orbital ns Con đường di chuyển của electron Hình 2. Hình vẽ mô tả cấu trúc nguyên tử của một ô xít kim loại điển hình (a) và cấu trúc vùng năng lượng được hình thành khi nguyên tử kim loại M liên kết ion với nguyên tử ô xi (O) (b) Ô xít kim Độ rộng vùng cấm Khối lượng hiệu dụng Loại loại (eV) Điện tử Lỗ trống ZnO 3,41 0,24mo 2,9mo Bán dẫn loại 3,38 In2O3 0,30mo N/A n SnO2 3,50 0,26mo 2,8mo Bán dẫn loại Cu2O 2,17 0,99mo 0,58mo p NiO 3,60 N/A 0,90mo Bảng 1.
Khối lượng hiệu dụng của điện tử và lỗ trống ứng với từng ô xít kim loại bán dẫn khác nhau với mo là khối lượng của điện tử tự do [16–18] Nhờ vào những tính chất nổi bật như trên mà các màng mỏng ô xít kim loại bán dẫn được ứng dụng ở rất nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của cuộc 7 sống hiện đại. Màng mỏng ô xít kim loại bán dẫn hiện diện khắp nơi và đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực, bao gồm: cảm biến, hiển thị, lưu trữ thông tin, chuyển đổi năng lượng, v. CẢM BIẾN HIỂN THỊ MxOy SiO2 Si MxOy LƯU TRỮ ZnO, In2O3, SnO2 CHUYỂN ĐỔI THÔNG TIN Cu2O, SnO NĂNG LƯỢNG Hình 3. Một số ứng dụng nổi bật của màng mỏng trong các lĩnh vực khác nhau.
Màng mỏng ô xít kim loại là thành phần không thể thiếu trong việc sản xuất transistor và mạch tích hợp, các thành phần cơ bản của tất cả các thiết bị điện tử, bao gồm điện thoại thông minh, máy tính và các thiết bị kỹ thuật số khác. Ngoài ra, chúng còn được sử dụng để tạo ra các lớp phủ chống phản xạ trên ống kính, màn hình nhằm giảm chói và cải thiện tầm nhìn trong kính mắt, ống kính máy ảnh và màn hình điện tử. Trong các hệ thống quang học, màng mỏng ô xít kim loại bán dẫn còn được sử dụng để sản xuất gương và bộ lọc quang học dể nâng cao độ chính xác và hiệu suất của các thiết bị như kính viễn vọng và kính hiển vi. Trong lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, màng mỏng ô xít kim loại được ứng dụng trong pin mặt trời.
Chúng được chế tạo từ các vật liệu như silic vô định hình, cadmi telluride hoặc đồng indi gali selenide, cung cấp một giải pháp thay thế chi phí thấp và linh hoạt cho pin mặt trời truyền thống dựa trên silic, góp phần vào sự phát triển của công nghệ năng lượng tái tạo. 8 Các vật liệu này còn được sử dụng trong phát triển pin thế hệ mới và siêu tụ điện, cải thiện khả năng lưu trữ năng lượng cần thiết cho các thiết bị điện tử di động và xe điện. Màng mỏng là một thành phần quan trọng của công nghệ hiện đại, với các ứng dụng làm tăng cường tính năng, hiệu quả và hiệu suất của nhiều thiết bị và hệ thống được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Khi nghiên cứu và phát triển công nghệ màng mỏng tiếp tục tiến bộ, tác động của chúng đối với các ngành công nghiệp khác nhau và các khía cạnh của cuộc sống hàng ngày dự kiến sẽ tăng, thúc đẩy sự đổi mới và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Ngoài những tính chất nổi trội của mình, một điểm nổi bật khác khiến các ô xít kim loại bán dẫn thu hút nhiều sự chú ý, quá trình chế tạo chúng ít phức tạp hơn so với các chất bán dẫn được làm từ Si. Phương pháp chế tạo màng mỏng ô xít kim loại bán dẫn: Có nhiều phương pháp chế tạo vật liệu màng mỏng ô xít kim loại, bao gồm các phương pháp vật lý như phún xạ, bốc bay chùm điện tử, hay các phương pháp sử dụng hơi hóa học như: CVD, PECVD (CVD sử dụng plasma), ALD (công nghệ lắng đọng đơn lớp nguyên tử). a) Al(CH3)3 b) BƯỚC 1 C H Al O BƯỚC 2 CH4 H2O Al(CH3)3 Màng mỏng ĐẾ T (oC) ĐẾ Làm ĐẾ sạch Làm Làm BƯỚC 4 sạch sạch BƯỚC 3 H2O Làm CH4 sạch ĐẾ ĐẾ Hình 4. Minh họa bằng sơ đồ của: a) kỹ thuật CVD khi phun hỗn hợp tiền chất khí H2O và Al(CH3)3 vào bề mặt đế đang được nung nóng; b) kỹ thuật ALD khi phun lần lượt các tiền chất khí: H2O và Al(CH3)3 vào bề mặt đế.[21] 9 Điển hình trong số đó là CVD (Hình 4a), công nghệ này được phát triển trong những năm 1920.
Trong kỹ thuật này, một hỗn hợp khí phun vào một buồng chân không chứa chất nền được nung nóng. Nhờ các phản ứng hóa học trong pha hơi giữa các chất khí ở trên bề mặt chất nền, màng mỏng chất rắn được lắng đọng trên bề mặt chất nền. Thông thường, nhiệt độ chất nền là khá cao, vào khoảng 400 – 800 °C. Một số điểm hạn chế của CVD bao gồm: i) các phản ứng không mong muốn trong hỗn hợp khí thay vì ở ngay trên bề mặt đế gây ảnh hưởng đến chất lượng của màng, ii) màng kém đồng đều khi phủ lên các bề mặt có độ gồ ghề cao, iii) nhiệt độ sử dụng khá lớn khiến việc sử dụng các đế dẻo như plastics không khả thi.
Vì những hạn chế này, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về các phương pháp để cải tiến CVD.