lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày thành 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về mạng lưới kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng mạng lưới kinh doanh nhập khẩu với các đối tác châu Á của Công ty Cổ phần Thương mại và Đầu tư Đức Giang giai đoạn 2013-2017. Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp phát triển mạng lưới kinh doanh nhập khẩu với các đối tác châu Á của Công ty Cổ phần Thương mại và Đầu tư Đức Giang đến năm 2020. 5 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MẠNG LƢỚI KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm và vai trò của mạng lƣới kinh doanh nhập khẩu 1. Khái niệm mạng lưới kinh doanh nhập khẩu Theo Từ điển Tiếng Việt, mạng lưới là h ệ thống những liên kết đan nối vào nhau cùng thực hiện chức năng chung hoă ̣c là h ệ thống tổ chức gồm nhiều cá nhân hoặc đơn vị có cùng chức năng cụ thể. Kinh doanh là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm mục đính đạt lợi nhuận qua một loạt các hoạt động như: quản trị, tiế p thi,̣ tài chính, kế toán, sản xuất. Nhập khẩu là tổng thể các giao dịch kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình mua hàng hoá giữa các quốc gia theo nguyên tắc trao đổi ngang giá thông qua công cụ tiền tệ.
Nó không đơn thuần là hành vi buôn bán riêng lẻ biệt lập mà là một hệ thống mạng lưới quan hệ có tổ chức bên trong và bên ngoài. Nếu xét ở phạm vi hẹp, Điều 28 Chương II, mục 1 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 định nghĩa: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. “Kinh doanh nhập khẩu là nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ từ các doanh nghiệp nước ngoài, tiến hành tiêu thụ ở thị trường nội địa hoặc tái xuất nhằm thu lợi nhuận. Mục tiêu của kinh doanh nhập khẩu là sử dụng hiệu quả ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật, hàng hóa và dịch vụ nhằm thu lợi nhuận.” “Mặt khác, kinh doanh nhập khẩu đảm bảo sự phát triển ổn định của các ngành mũi nhọn của mỗi nước mà khả năng sản xuất trong nước chưa đáp ứng nhu cầu, khai thác triệt để lợi thế so sánh, thực hiện chuyên môn hoá, kết hợp hài hoà và có hiệu quả giữa nhập khẩu và cải thiện cán cân thương mại.” Theo từ điển tiế ng Anh, mạng lưới kinh doanh (bussiness networking) là hê ̣ thố ng các mố i quan hê ̣ cùng có lơ ̣i giữa các doanh nhân và khách hàng tiề m năng.
Mục đích chính của mạng lưới kinh doanh là giới thiệu doanh nghiệp với đối tác và 6 biến đố i tác thành khách hàng. Mạng lưới kinh doanh được xây dựng dựa trên mối quan hệ, đó là một phương pháp liên tục và dài hạn để thu thập địa chỉ liên hệ kinh doanh nhưng có thể rất hiệu quả. Có thể hiểu mạng lưới kinh doanh nhập khẩu là hệ thống t ổ chức gồm nhiều tổ chức kinh tế, công ty nước ngoài có cùng chức năng, cung cấ p hàng nhâ ̣p khẩ u cho doanh nghiê ̣p tiêu th ụ ở thị trường nội địa hoặc tái xuất để thu lợi nhuận. Quan hê ̣ giữa các bên không đơn giản là quan hê ̣ mua bán thông thường mà là quan hê ̣ đố i tác có tính toàn diện , ổn định, lâu dà i, không chỉ cùng có lơ ̣i mà còn sẵn sàng chia sẻ rủi ro, hơ ̣p tác chă ̣t chẽ trong ca ̣nh tranh kinh tế quố c tế.
Các mô hình mạng lưới kinh doanh thường gặp: Mô hình mạng lưới liên kết chiều ngang Hình 1.1: Mô hin ̀ h ma ̣ng lƣới liên kế t chiều ngang Nguồ n: Understanding Process Quality in the Context of Collaborative Business Network Structures (https://hal.fr/file/index/docid/1055811/filename/ 03380536.pdf) Mô hình này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp chuyên doanh mô ̣t loại hàng hóa , mô hình công ty mẹ - con, chi nhánh công ty, tập đoàn lớn tại các khu vực khác nhau, hoặc chuỗi cung ứng – sản xuất. “Mạng lưới liên kết chiều ngang có sự ràng buộc về quyền lợi và trách nhiệm giữa các thành viên trong mạng lưới. Mục tiêu và lợi ích của từng thành viên được đặt trong mục tiêu và lợi ích chung của cả hệ thống, do vậy quá trình đàm phán giữa các thành viên diễn ra nhanh chóng và thuận lợi. Tuy nhiên, điều này dễ dẫn đến độc quyền ảnh hưởng đến lợi ích của xã hội sẽ không được tối đa hoá.” Mô hình mạng lưới liên kết kiểu trung tâm 7 Hình 1.2: Mô hin ̀ h ma ̣ng lƣới liên kế t kiể u trung tâm Nguồ n: Understanding Process Quality in the Context of Collaborative Business Network Structures (https://hal.fr/file/index/docid/1055811/filename/ 03380536.pdf) Mô hình này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp thương ma ̣i , kinh doanh nhiề u mă ̣t hàng.
Chủ thể mạng lưới là doanh nghiệp trung tâm, có mối quan hệ với tất cả các thành viên trong mạng lưới. Đối tác mạng lưới là các doanh nghiệp vệ tinh có mối quan hệ kinh tế với chủ thể mạng lưới, có cùng chức năng cung cấp hoặc tiêu thụ hàng hóa cho doanh nghiệp trung tâm. Quan hệ mạng lưới: Các thành viên trong mạng lưới trung tâm hoạt động tương đối độc lập và được ràng buộc với nhau bằng hợp đồng kinh tế. Vai trò của các thành viên trong mạng lưới bình đẳng như nhau.
Tính bền vững của mạng lưới thấp, các thành viên có thể tham gia hoặc rút lui khỏi mạng lưới rất dễ dàng. Do vậy, các thành viên phải thường xuyên xây dựng mối quan hệ mới và tốn kém chi phí.” Sự vận hành mạng lưới: Mối quan hệ giữa các thành viên trong mạng lưới trung tâm được ràng buộc bởi hợp đồng kinh tế, điều này có nghĩa doanh nghiệp có 8 thể tham gia mạng lưới khi một hợp đồng được ký kết đồng thời rút khỏi mạng lưới khi hoàn thành các nghĩa vụ trong hợp đồng. Sự tham gia và rút lui dễ dàng như vậy dẫn đến sự thay đổi thường xuyên về số lượng thành viên trong mạng lưới. Các đối tác hay các doanh nghiệp vệ tinh sẽ cung cấp hoặc tiêu thụ hàng hóa dịch vụ cho doanh nghiệp trung tâm theo nhu cầu, khả năng của mỗi bên.
Doanh nghiệp trung tâm có vai trò điều hành quản lý mạng lưới kinh doanh, duy trì mối quan hệ với các đối tác mạng lưới, đảm bảo sự vận hành liên tục của mạng lưới. Phân loại mạng lưới kinh doanh Mạng lưới kinh doanh được phân loại theo nhiều tiêu thức: theo mức độ trung gian, theo sự độc lập hay phụ thuộc giữa các thành viên mạng lưới. Phân loại mạng lưới kinh doanh theo mức độ trung gian Số mức độ trung gian trong mạng lưới kinh doanh tạo nên mạng lưới kinh doanh có độ dài ngắn khác nhau. Cơ cấu này liên quan đến số đầu mối, chi phí vận hành, thời gian thực hiện giao dịch và khả năng kết nối với các chủ thể khác.3: Phân loa ̣i ma ̣ng lƣới kinh doanh theo mƣ́c đô ̣ trung gian Nguồ n: Cấu trúc mạng lưới bán hàng (mạng lưới Marketing) (https://voer.vn/m/cau-truc-mang-luoi-ban-hang-mang-luoi-arketing/6953bf31) 9 “Mạng lưới 1, mạng lưới kinh doanh trực tiếp: hàng hóa được chuyển trực tiếp từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng.
Mạng lưới này thường được áp dụng cho các loại hàng hoá độc quyền hoặc có hàm lượng kỹ thuật cao, phải có sự hướng dẫn sử dụng cẩn thận từ nhà sản xuất.” “Mạng lưới này đảm bảo thông tin nhà sản xuất thu được sẽ có tính thực tế và hữu ích, nhà sản xuất được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, nắm bắt dễ dàng nhu cầu khách hàng hơn thông qua trung gian bán hàng. Bên cạnh những ưu điểm, mạng lưới bán hàng trực tiếp có hạn chế là trình độ chuyên môn hoá thấp, tổ chức và quản lý mạng lưới phức tạp, vốn chu chuyển chậm, nguồn nhân lực bị phân tán.” “Mạng lưới 2 hay mạng lưới một cấp, hàng hoá đến tay người tiêu dùng thông qua người bán lẻ. Với loại mạng lưới này, một mặt nó vẫn phát huy được lợi thế của mạng lưới bán hàng trực tiếp, mặt khác nó làm tăng chức năng chuyên môn hoá, phát triển năng lực sản xuất. Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, sự đòi hỏi khắt khe của khách hàng là đảm bảo hàng hoá phải có mặt ở khắp nơi, tạo điều kiện cho việc mua bán được dễ dàng thì cấu trúc này vẫn chưa phải tối ưu.” “Mạng lưới 3, mạng lưới 2 cấp.
Trong mạng lưới, ngoài người bán lẻ còn có thêm người bán buôn, cấu trúc này thường được sử dụng phổ biến đối với những loại hàng hoá giá trị thấp, được mua thường xuyên.” “Mạng lưới 4 hay mạng lưới 3 cấp, được sử dụng khi có nhiều nhà sản xuất nhỏ và nhiều người bán lẻ. Một đại lý được sử dụng để giúp phối hợp cung cấp sản phẩm với khối lượng lớn đến thị trường mục tiêu.” “Loại mạng lưới 3 và 4 là loại mạng lưới dài và đầy đủ nhất. Đây là loại mạng lưới phổ biến trong kinh doanh hàng hoá. Nó giải quyết được mâu thuẫn: sản xuất tập trung, tiêu dùng rộng khắp.
Tuy nhiên, với việc sử dụng mạng lưới dài thì chi phí thiết lập mạng lưới lớn, việc điều hành và quản lý mạng lưới gặp nhiều khó khăn.Vì vậy, nhà quản lý cần phải đầu tư và quản lý thích hợp để tránh trùng lặp và giảm chi phí. Phân loại mạng lưới kinh doanh theo mức độ liên kết Mức độ liên kết của các thành viên trong mạng lưới tạo nên các mạng lưới kinh doanh khác nhau. “Mạng lưới thông thường: là một hệ thống mạng lưới bao gồm một mạng lưới các nhà sản xuất, nhà bán buôn và nhà bán lẻ, hoạt động tương đối độc lập. Những hợp đồng kinh tế được hình thành một cách đơn lẻ hoặc ngẫu nhiên giữa các bên mà không có ràng buộc lâu dài lẫn nhau.
Vì vậy họ luôn tìm cách tối đa hoá lợi ích cho dù có làm giảm lợi ích của toàn bộ hệ thống mạng lưới kinh doanh.” “Hệ thống mạng lưới liên kết dọc: Đây là những mạng lưới được tổ chức, thiết kế theo tính toán từ trước để đảm bảo sự ràng buộc về quyền lợi và trách nhiệm giữa các thành viên trong mạng lưới với nhau. Mục tiêu của từng thành viên được đặt trong mục tiêu chung của cả hệ thống. Nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ hoạt động như một thể thống nhất.