Luận văn: Làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Vĩnh Phúc

Phát triển làng nghề Vĩnh Phúc thúc đẩy kinh tế, xã hội nông thôn. Tìm hiểu các chính sách, giải pháp hỗ trợ làng nghề truyền thống bền vững.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2011

120
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò làng nghề Vĩnh Phúc trong kinh tế nông thôn

Làng nghề tại Vĩnh Phúc đóng một vai trò chiến lược trong sự phát triển kinh tế và xã hội của khu vực nông thôn. Đây không chỉ là nơi bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Sự phát triển của các làng nghề góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực tại chỗ, từ lao động, vốn đến nguyên liệu, qua đó xây dựng một nền kinh tế nông thôn năng động và bền vững. Theo nghiên cứu, việc khôi phục và phát triển các làng nghề như gốm Hương Canh, đá Hải Lựu, hay mộc Bích Chu đã chứng minh vai trò không thể thiếu trong việc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

1.1. Vai trò của làng nghề truyền thống trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sự phát triển của làng nghề truyền thống là yếu tố then chốt thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Vĩnh Phúc. Các làng nghề giúp giảm dần sự phụ thuộc vào nông nghiệp thuần túy, tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Hoạt động sản xuất tại các làng nghề thu hút một lượng lớn lao động nông thôn, đặc biệt là lao động nông nhàn, góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm vốn là một thách thức lớn. Theo luận văn của Vũ Thị Hồng Thắm, sự phát triển này tạo ra giá trị sản xuất cao, đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm của tỉnh. Hơn nữa, nó còn kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ phụ trợ như vận tải, cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, tạo thành một hệ sinh thái kinh tế đa dạng và liên kết chặt chẽ ngay tại khu vực nông thôn.

1.2. Phân loại các nhóm làng nghề chính tại tỉnh Vĩnh Phúc

Tỉnh Vĩnh Phúc hiện có 39 làng nghề, trong đó có 8 làng nghề truyền thống với nhiều ngành nghề đa dạng. Dựa trên sản phẩm, có thể phân loại thành các nhóm chính. Nhóm thứ nhất là chế biến nông, lâm sản, thực phẩm. Nhóm thứ hai là sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ như mộc Thanh Lãng, đan lát Triệu Đề, gốm sứ Hương Canh. Nhóm thứ ba tập trung vào sản xuất vật liệu xây dựng và cơ khí nhỏ. Mỗi nhóm làng nghề có những đặc điểm riêng về quy mô sản xuất, công nghệ và thị trường. Sự đa dạng này không chỉ làm phong phú thêm cơ cấu sản phẩm của tỉnh mà còn cho thấy tiềm năng to lớn trong việc phát triển kinh tế địa phương. Việc phân loại rõ ràng giúp các nhà hoạch định chính sách khuyến khích có thể đưa ra những biện pháp hỗ trợ phù hợp và hiệu quả cho từng nhóm ngành nghề.

II. Top 3 thách thức kìm hãm sự phát triển làng nghề Vĩnh Phúc

Mặc dù sở hữu tiềm năng lớn, quá trình phát triển làng nghề Vĩnh Phúc vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức đáng kể. Tài liệu nghiên cứu cho thấy phần lớn các làng nghề còn tồn tại ở quy mô nhỏ, sản xuất manh mún, cầm chừng và thiếu ổn định. Các vấn đề cốt lõi bao gồm hạn chế về vốn và công nghệ, năng lực cạnh tranh trên thị trường yếu và tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Việc nhận diện và phân tích sâu các rào cản này là bước đi tiên quyết để tìm ra những giải pháp đột phá, giúp các làng nghề vượt qua trì trệ và phát triển một cách bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế.

2.1. Phân tích thực trạng về vốn công nghệ và lao động nông thôn

Một trong những rào cản lớn nhất là thiếu hụt vốn sản xuất. Hầu hết các cơ sở sản xuất trong làng nghề có quy mô hộ gia đình, nguồn vốn chủ yếu là tự có hoặc vay mượn trong nội bộ, khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức. Điều này dẫn đến việc chậm đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị. Công nghệ sản xuất tại nhiều làng nghề vẫn còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào thủ công và kinh nghiệm truyền thống, làm cho năng suất thấp và chất lượng sản phẩm không đồng đều. Mặc dù lao động nông thôn dồi dào, nhưng phần lớn chưa qua đào tạo bài bản, tay nghề chủ yếu dựa trên phương thức "cha truyền con nối", thiếu kiến thức về quản lý và kinh doanh hiện đại.

2.2. Hạn chế trong xây dựng thương hiệu và tìm kiếm thị trường tiêu thụ

Năng lực cạnh tranh của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và sản phẩm làng nghề nói chung còn yếu. Vấn đề lớn nằm ở khâu marketing và xây dựng thương hiệu. Hầu hết các cơ sở sản xuất chưa chú trọng đến việc đăng ký nhãn hiệu, thiết kế bao bì hay quảng bá sản phẩm một cách chuyên nghiệp. Việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ chủ yếu diễn ra một cách tự phát, phụ thuộc nhiều vào thương lái và các kênh trung gian, dẫn đến giá trị gia tăng thấp và đầu ra không ổn định. Sự cạnh tranh từ các sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng loạt và hàng nhập khẩu cũng tạo ra áp lực lớn, đòi hỏi các làng nghề phải có chiến lược khác biệt hóa sản phẩm và xây dựng được thương hiệu riêng để tồn tại và phát triển.

2.3. Vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề và hệ lụy xã hội

Tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề là một vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân và sự phát triển bền vững. Các hoạt động sản xuất như chế biến nông sản, mộc, cơ khí thường phát sinh lượng lớn chất thải rắn, nước thải, bụi và tiếng ồn. Tuy nhiên, hệ thống xử lý chất thải tại các làng nghề hầu như không có hoặc rất thô sơ. Nước thải không qua xử lý được xả thẳng ra môi trường gây ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm. Bụi và tiếng ồn vượt ngưỡng cho phép ảnh hưởng đến sức khỏe của cả người lao động và cộng đồng dân cư. Nếu không có giải pháp quyết liệt, vấn đề này sẽ trở thành rào cản nghiêm trọng, làm mất đi lợi thế phát triển và gây ra những hệ lụy xã hội lâu dài.

III. Giải pháp quy hoạch chính sách phát triển làng nghề Vĩnh Phúc

Để thúc đẩy phát triển làng nghề Vĩnh Phúc, việc xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ từ quy hoạch đến chính sách là yêu cầu cấp thiết. Các giải pháp này cần tập trung vào việc tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi, định hướng phát triển rõ ràng và cung cấp những hỗ trợ thiết thực cho các cơ sở sản xuất. Luận văn của Vũ Thị Hồng Thắm nhấn mạnh vai trò của chính quyền địa phương trong việc hoàn thiện công tác quy hoạch và ban hành các chính sách khuyến khích phù hợp. Đây là nền tảng để giải quyết các vấn đề tồn tại, khai thác hiệu quả tiềm năng và đưa các làng nghề bước vào một giai đoạn phát triển mới, có tổ chức và bền vững hơn.

3.1. Hoàn thiện công tác quy hoạch phát triển làng nghề toàn tỉnh

Quy hoạch là công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, giúp định hướng không gian phát triển cho các làng nghề. Cần tiến hành rà soát, điều chỉnh và bổ sung quy hoạch phát triển làng nghề trên toàn địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và các giai đoạn tiếp theo. Quy hoạch cần xác định rõ các cụm công nghiệp làng nghề tập trung, tách khu vực sản xuất ra khỏi khu dân cư để giải quyết vấn đề mặt bằng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề. Việc quy hoạch cũng phải gắn liền với phát triển hạ tầng kinh tế như giao thông, điện, nước và hệ thống xử lý chất thải. Một quy hoạch khoa học và khả thi sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và hộ sản xuất đầu tư mở rộng quy mô, hiện đại hóa sản xuất một cách bài bản.

3.2. Các chính sách khuyến khích thu hút đầu tư và hỗ trợ sản xuất

Nhà nước và chính quyền địa phương cần ban hành các chính sách khuyến khích cụ thể để hỗ trợ làng nghề. Các chính sách này nên tập trung vào các lĩnh vực trọng yếu. Về tín dụng, cần tạo điều kiện để các hộ sản xuất dễ dàng tiếp cận nguồn vốn sản xuất ưu đãi. Về đất đai, cần có cơ chế cho thuê đất dài hạn với giá hợp lý tại các cụm công nghiệp đã quy hoạch. Về thuế, có thể xem xét miễn, giảm thuế trong những năm đầu cho các dự án đầu tư vào đổi mới công nghệ hoặc xử lý môi trường. Bên cạnh đó, các chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, tham gia hội chợ triển lãm cũng là những công cụ hữu hiệu giúp các làng nghề mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao năng lực cạnh tranh.

IV. Bí quyết nâng cao nguồn lực và mở rộng thị trường tiêu thụ

Bên cạnh vai trò của nhà nước, sự nỗ lực tự thân của các làng nghề trong việc nâng cao chất lượng nguồn lực và chủ động tìm kiếm thị trường là yếu tố quyết định sự thành công. Việc tập trung vào đào tạo nhân lực, cải tiến mẫu mã sản phẩm và xây dựng chiến lược marketing bài bản sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ là việc áp dụng máy móc, mà còn là hiện đại hóa tư duy kinh doanh. Các làng nghề cần chuyển từ sản xuất thụ động sang chủ động nắm bắt thị hiếu, tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu của thị trường hiện đại.

4.1. Giải pháp đào tạo nghề và nâng cao tay nghề cho lao động nông thôn

Chất lượng sản phẩm phụ thuộc trực tiếp vào tay nghề của người thợ. Do đó, cần chú trọng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Cần tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, kết hợp giữa kỹ thuật truyền thống và công nghệ mới. Khuyến khích các nghệ nhân giỏi tham gia truyền nghề cho thế hệ trẻ để bảo tồn các bí quyết nghề nghiệp. Chương trình đào tạo không chỉ tập trung vào kỹ năng sản xuất mà còn cần bổ sung kiến thức về quản trị kinh doanh, marketing và an toàn lao động. Việc nâng cao chất lượng lao động nông thôn sẽ giúp tạo ra những sản phẩm thủ công tinh xảo hơn, đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu.

4.2. Chiến lược marketing và xây dựng thương hiệu sản phẩm thủ công

Để thoát khỏi sự phụ thuộc vào thương lái, các làng nghề cần xây dựng chiến lược marketing và thương hiệu riêng. Bước đầu tiên là nghiên cứu thị trường để xác định nhu cầu và xu hướng của người tiêu dùng. Dựa trên đó, các cơ sở sản xuất cần cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng. Việc xây dựng một câu chuyện thương hiệu gắn liền với giá trị văn hóa, lịch sử của làng nghề là một cách hiệu quả để tạo sự khác biệt. Tận dụng các kênh marketing hiện đại như mạng xã hội, website, thương mại điện tử để quảng bá sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng trong và ngoài nước sẽ giúp mở rộng thị trường tiêu thụ và tăng giá trị cho sản phẩm.

V. Tác động thực tiễn từ phát triển làng nghề tại Vĩnh Phúc

Việc đầu tư và phát triển làng nghề tại Vĩnh Phúc đã mang lại những kết quả tích cực, có tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế - xã hội khu vực nông thôn. Thực tiễn cho thấy, ở những địa phương có làng nghề phát triển, bộ mặt nông thôn đã có sự thay đổi rõ rệt, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao. Các làng nghề không chỉ là nơi sản xuất kinh doanh mà còn trở thành những trung tâm kinh tế nhỏ, tạo ra sự lan tỏa và thúc đẩy các ngành nghề khác cùng phát triển. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy hướng đi phát triển làng nghề là hoàn toàn đúng đắn và cần được tiếp tục nhân rộng.

5.1. Tác động của làng nghề đến giải quyết việc làm và tăng thu nhập

Một trong những đóng góp lớn nhất của làng nghề là giải quyết việc làm cho lao động địa phương. Các hoạt động sản xuất đã thu hút hàng nghìn lao động, từ lao động chính đến lao động phụ, người già và trẻ em cũng có thể tham gia vào một số công đoạn phù hợp. Điều này giúp tận dụng tối đa nguồn nhân lực, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập đáng kể cho các hộ gia đình. Luận văn nghiên cứu chỉ ra rằng thu nhập bình quân đầu người tại các xã có làng nghề phát triển thường cao hơn so với các xã thuần nông. Nhờ có nguồn thu nhập ổn định từ nghề, người dân có điều kiện cải thiện cuộc sống, đầu tư cho giáo dục con cái và xây dựng cơ sở vật chất khang trang hơn.

5.2. Bài học kinh nghiệm từ mô hình mộc Thanh Lãng gốm Hương Canh

Các làng nghề tiêu biểu như mộc Thanh Lãng hay gốm Hương Canh cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu. Thành công của các làng nghề này đến từ sự kết hợp hài hòa giữa việc giữ gìn bản sắc truyền thống và mạnh dạn đổi mới để thích ứng với thị trường. Họ đã chủ động đầu tư máy móc để cơ giới hóa một số công đoạn, nâng cao năng suất nhưng vẫn giữ lại những khâu thủ công tinh xảo để tạo nên sự độc đáo cho sản phẩm. Hơn nữa, sự năng động trong việc tìm kiếm thị trường, xây dựng mạng lưới phân phối và tạo dựng uy tín thương hiệu là yếu tố then chốt. Mô hình liên kết giữa các hộ sản xuất, thành lập hợp tác xã hoặc doanh nghiệp cũng cho thấy hiệu quả trong việc nâng cao quy mô và sức cạnh tranh.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ làng nghề trong phát triển kinh tế xã hội nông thôn ở tỉnh vĩnh phúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về làng nghề trong phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn. Chƣơng 2: Thực trạng làng nghề trong phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2000 đến nay. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển làng nghề ở Vĩnh Phúc. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LÀNG NGHỀ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN 1.

Làng nghề, đặc điểm và phân loại làng nghề 1.1 Đặc điểm của làng nghề 1. Khái niệm về làng nghề Làng nghề là phạm trù ghép của hai từ “làng” và “nghề”. Làng là một phạm trù dùng để chỉ một khối dân cư ở nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt, và là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến. Làng ở Việt Nam đã xuất hiện từ thời Hùng Vương, nó được hình thành trên cơ sở những công xã nông thôn, trong đó mỗi công xã gồm một số gia đình, có một tinh thần cộng đồng, cộng cảm, sống quây quần trong một khu vực địa lý nhất định.

Sự tập trung đó là do nghề trồng lúa nước (đã có ở nước ta vào khoảng thế kỷ thứ VII TrCN) phải thường xuyên chống thiên tai mà công việc này một gia đình không thể đảm đương được, cần có sự liên kết của cộng đồng, gắn bó với nhau và cùng chung sống chết. Lúc đầu, nguồn sống cơ bản của người dân trong các làng là sản phẩm nông nghiệp. Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất làm cho sản xuất nông nghiệp có của dư thừa, làm ra đời kinh tế hàng hoá. Dần dần trong làng có những người làm nghề buôn bán, rồi có những người chế tác công cụ lao động, sản xuất đồ mộc, đan lát đồ dùng, nuôi tằm, kéo tơ, dệt vải.

tức là chuyển sang sản xuất thủ nghiệp. Trong thời kỳ đầu, sản xuất công nghiệp chỉ ở quy mô gia đình và bị phụ thuộc kinh tế tự nhiên giống như cách mô tả của V.Lênin: "ở đây, nghề thủ công với nông nghiệp chỉ là một mà thôi" [34, tr. Theo đà phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội và kinh tế hàng hoá, những người sản làm nghề thủ công vốn coi công việc của mình là một nghề phụ trong nghề nông chuyển sang thành một nghề 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độc lập. Tuy họ đã rời bỏ sản xuất nông nghiệp, nhưng vẫn gắn chặt với làng quê, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sống bằng nghề thủ công nghiệp.

Bên cạnh những người này, trong làng vẫn có những người làm nông nghiệp kiêm thợ thủ công. Trong quá trình phát triển, số người trong làng chuyển hẳn sang sản xuất các mặt hàng thủ công dần tăng lên, có đội ngũ thợ, có quy trình công nghệ, quy mô sản xuất hàng thủ công tăng lên đến một mức độ nhất định làm cho làng thuần nông chuyển biến thành các làng nghề. Tuy đã được hình thành từ lâu, nhưng đến nay, ở nước ta vẫn tồn tại những quan niệm khác nhau về làng nghề. Chẳng hạn, theo giáo sư Trần Quốc Vượng, "Làng nghề là làng tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một số nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp.

có phường, có ông trùm, có phó cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định "sinh ư nghệ, tử ư nghệ", "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh", sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công" [44, tr. Đây là quan niệm tuy đúng với làng nghề truyền thống, nhưng lại không thích hợp với các làng nghề nói chung và càng không phải là làng nghệ mới được đi vào hoạt động. Nếu cho rằng phát triển làng nghề phải có nghề cổ truyển nổi trội, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp thì ngày nay rất khó có được một loại làng nghề như vậy.

Một quan niệm khác cho rằng, "Làng nghề là những làng đã có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm" [23, tr. Còn trong Dự thảo Nghị định của Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đệ trình tháng 5/2005, thì "Làng nghề là tôn, ấp, bản có trên 35% số hộ hoặc lao động 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và thu nhập từ ngành nghề nông thôn chiểm trên 50% tổng thu nhập của làng". Các định nghĩa trên đã khắc phục được nhược điểm của quan niệm thứ nhất, quan tâm đến phải có tỷ lệ người làm nghề và thu nhập từ ngành nghề, nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề và việc cố định những tiêu chí trong khái niệm sẽ làm cho các nhà hoạch định chính sách khó xử lý khi chế độ ưu đãi đối với làng nghề đã thay đổi thì phải chăng khái niệm cũng thay đổi. Quan niệm thứ tư của Theo TS.

Dương Bá Phượng thì “Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập”. Quan niệm này đã nêu lên được hai yếu tố cơ bản cấu thành của làng nghề là làng và nghề, nêu lên được vấn đề nghề trong làng tách ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập nên phù hợp với điều kiện mới hơn, tránh được hạn chế của quan niệm thứ hai, song vẫn mắc phải hạn chế của quan niệm thứ nhất. Có nhiều chỉ tiêu phản ánh quy mô các hoạt động thủ công nghiệp, trong đó có hai chỉ tiêu cơ bản là giá trị sản xuất và lao động làm nghề thủ công nghiệp. Song, do nghề gắn với làng vốn có điểm xuất phát là nông nghiệp, nên phải so sánh tỷ lệ lao động (hay hộ) và thu nhập của thủ công nghiệp với tổng số lao động và tổng thu nhập của làng.

Nghĩa là, tỷ lệ lao động làm nghề và tỷ lệ thu nhập do nghề mang lại so với lao động và thu nhập của làng là tiêu thức xác định làng đó có phải là làng nghề hay không. Thuật ngữ LÀNG NGHỀ được tạo thành từ hai chủ thể “làng” và “nghề”. Nghề được đề cập ở đây là nghề TTCN được tiến hành trong phạm vi làng và gắn với làng. Có thể hiểu một cách đơn giản làng nghề là làng có hoạt động TTCN.

Tuy vậy, không phải quy mô của nghề ở bất cứ mức độ nào thì làng cũng được gọi là làng nghề. Làng được gọi là làng nghề khi các hoạt động TTCN đủ lớn đến một mức độ nào đó và mang tính ổ định. Như vậy, khái niệm làng nghề phải thể hiện cả về định tính và định lượng. Định tính 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của làng nghề thể hiện sự khác biệt của làng nghề so với làng thuần nông (hoặc có ngành nghề phụ quy mô nhỏ) hoặc với phố nghề ở thành thị.

Định lượng của khái niệm làng nghề là chỉ ra làng nghề đạt đến quy mô nào và mang tính ổn định ra sao. Vì có điểm xuất phát là làng gắn với nông nghiệp nên quy mô TTCN của làng phát triển đến mức độ nào đó mới được gọi là làng nghề vì ở trong làng nên việc định lượng, xác định quy mô nghề vừa phải xem xét chính bản thân hoạt động TTCN, vừa phải đặt trong quy mô làng về số hộ, số lao động, thu nhập từ hoạt động kinh tế bởi vì đặc trưng đầu tiên của làng Việt Nam là gắn với số hộ, số lao động và thu nhập từ nông nghiệp. Có nhiều chỉ tiêu phản ánh quy mô các hoạt động TTCN, trong đó hai chỉ tiêu cơ bản là giá trị sản xuất và lao động làm nghề TTCN. Tuy vậy, do nghề gắn liền với làng vốn có điểm xuất phát là nông nghiệp nên phải so sánh tỷ lệ lao động (hay hộ) và thu nhập của TTCN với tổng số lao động và tổng thu nhập của làng.

Như vậy, tỉ lệ lao động làm nghề và tỉ lệ thu nhập do nghề đưa lại so với lao động và thu nhập của làng là bao nhiêu thì được gọi là làng nghề. Vấn đề đặt ra ở đây cũng tương tự như trong kinh tế học thường gặp như khái niệm trang trại và tiêu chí trang trại, khái niệm hộ nghèo và chuẩn phân loại hộ nghèo,… Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những điểm hợp lý của các quan niệm nêu trên và nghiên cứu của bản thân, theo tác giả luận văn thì làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỉ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như về mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng. Tên gọi của làng nghề gắn liền với tên gọi của các nghề thủ công như nghề gốm sứ, đúc đồng, ươm tơ, dệt vải, dệt tơ lụa. Trước đây, làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp.

Ngày nay, do sự phát triển mạnh của ngành kinh tế dịch vụ, nên ở các tỉnh còn có các nghề buôn bán dịch vụ trong nông thôn cũng được gọi là làng nghề. Trong một làng nghề có thể chỉ có một nghề, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhưng cũng có thể có nhiều nghề. Điều này là tuỳ theo số lượng ngành nghề thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ ưu thế có trong làng. Đặc điểm của làng nghề Khác với làng thuần nông và phố nghề, làng nghề được ra đời và phát triển ở nông thôn, có mối quan hệ chặt chẽ với nông nghiệp, lao động mang tính chất thủ công và chủ yếu là lao động tại chỗ; vốn ít, kỹ thuật và công nghệ lạc hậu và mang tính chất thủ công; hộ gia đình là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu, đa số sản phẩm được sản xuất có tính chất đơn chiếc và nhiều sản phẩm mang bản sắc văn hoá của vùng, của dân tộc.

Quá trình phát triển kinh tế thị trường, CNH và HĐH nông nghiệp, nông thôn làm cho các quan hệ kinh tế ở làng xã thay đổi, các làng nghề cũng biến đổi theo. Dưới đây là những đặc điểm chủ yếu của làng nghề.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ