Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề. - Chương 2: Thực trạng phát triển làng nghề huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình: trường hợp làng nghề Đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân. - Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển làng nghề huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình: trường hợp làng nghề Đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân. CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 1. Khái niệm về làng nghề và phát triển làng nghề * Làng nghề: Đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề. Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là một cộng đồng dân cư sinh sống trong một làng (hoặc khu vực dân cư) có hoạt động sản xuất kinh doanh tại các hộ gia đình hoặc các cơ sở sản xuất trong làng, có sử dụng các nguyên liệu trong và ngoài địa phương, phát triển đến mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của người dân trong làng. Quan niệm thứ hai: Làng nghề là làng nghề cổ truyền làm thủ công, nhưng không nhất thiết toàn bộ dân làng đều làm nghề thủ công.
Người thợ thủ công nhiều khi cũng làm nghề nông nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá họ chuyển sang sản xuất hàng thủ công ngay tại làng. Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, có quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời có sự liên kết hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo kiểu phường hội và có cùng tổ nghề. Quan niệm thứ tư: Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông. Quan niệm thứ năm: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho một nghề thủ công và lấy đó làm nghề sinh sống chủ yếu.
Theo quy định hiện hành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, công nhận là làng nghề phải đảm bảo 3 tiêu chí sau: 1. Có tối thiểu 30 % tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính tới thời điểm đề nghị công nhận. Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Từ các quan niệm trên cho thấy, “làng nghề” là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn gắn liền với 2 yếu tố “làng” và “nghề” Làng là khối dân cư ở nông thôn tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt. Phần lớn các làng xưa kia đều là nơi sản xuất nông nghiệp. Sau đó, do yêu cầu cuộc sống đòi hỏi ngày càng nhiều sản phẩm hơn vì vậy một số nghề phi nông nghiệp đã xuất hiện, có các hộ vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề hoặc có hộ tách khỏi nông nghiệp để chuyên sản xuất nghề. Dần dần, nghề phi nông nghiệp đã chiếm ưu thế.
Phần lớn các nghề trong làng nghề thuộc lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp. Ngày nay, do sự phát triển của kinh tế hàng hoá đã xuất hiện nhiều người chuyên làm dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ, các cơ sở sản xuất chuyên làm nghề thủ công, vì vậy, nghề nghiệp được mở rộng sang cả lĩnh vực buôn bán. Như vậy, yếu tố "nghề" trong làng nghề không nên hiểu là tất cả các nghề tạo ra thu nhập, tạo việc làm nói chung mà "nghề" ở đây phải là những nghề phi nông nghiệp. Từ đó có thể rút ra khái niệm làng nghề như sau: Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông.
* Làng nghề truyền thống: + Nghề truyền thống: Nghề truyền thống là một phạm trù dùng để chỉ những nghề đã có một quá trình lịch sử phát triển lâu đời, được tập trung sản xuất tại một vùng hay một làng, các sản phẩm được làm ra đã nổi tiếng trong vùng, trong nước biết đến và được nhiều lớp nghệ nhân, thợ thủ công đã được rèn rũa tay nghề qua nhiều đời và thế hệ thực hiện. Đặc trưng cơ bản nhất của nghề truyền thống là có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề. Mỗi nghề bao giờ cũng có ông tổ của nghề, được dân làng ghi công và thờ phụng từ đời này sang đời khác. Nghề truyền thống ở nước ta rất phong phú đa dạng, có những nghề đã hình thành và tồn tại hàng trăm năm, nhiều sản phẩm đã từng nổi tiếng trong nước và thế giới, ví dụ như: Nghề gốm sứ Bát Tràng (Hưng Yên), nghề dệt tơ lụa Vạn Phúc (Hà Đông), nghề dệt chiếu cói Nga Sơn (Thanh Hoá)… Những nghề truyền thống được truyền bá trong phạm vi từng làng.
Trong những làng có nghề truyền thống thì đa số người dân biết làm nghề đó, ngoài ra, họ còn có thể phát triển những nghề khác nhưng những nghề này chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nghề truyền thống. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới với những vật liệu mới. Vì vậy, khái niệm nghề truyền thống cũng được mở rộng hơn. Khái niệm này có thể được hiểu : Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc.
+ Làng nghề truyền thống Từ khái niệm “làng nghề” và “nghề truyền thống” có thể khái quát được khái niệm “ làng nghề truyền thống”. Làng nghề truyền thống trước hết là những làng nghề đã tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong làng nghề truyền thống những người thợ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những chế ước xã hội và gia tộc. Sản phẩm được nhiều thế hệ sản xuất ra có giá trị, có tính đặc thù riêng, nổi tiếng ở địa phương và nhiều nơi biết đến.
Trong các làng nghề truyền thống thường có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề truyền thống hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối. Song, sự truyền nghề không phải là sự sao chép, mỗi làng nghề, mỗi thợ thủ công khi tiếp thu nghề đều có những cải tiến, sáng tạo làm cho sản phẩm của mình có những nét độc đáo riêng so với sản phẩm của người khác, làng khác. * Khái niệm phát triển làng nghề Theo từ điển tiếng Việt năm 2004, phát triển là một khái niệm chỉ sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Với ý nghĩa đó, phát triển làng nghề có thể được hiểu đó là sự củng cố, duy trì, hoàn thiện hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề hiện có, tạo điều kiện thuận lợi nhằm khuyến khích thúc đẩy, nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả của các làng nghề.
Từ đó, có thể sử dụng một cách có hiệu quả những nguồn lực sẵn có ở nông thôn, đẩy mạnh sự chuyên môn hoá sản xuất và tạo ra nhiều sản phẩm hơn đáp ứng nhu cầu của xã hội. Vai trò của phát triển làng nghề trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội * Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nội dung và mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tạo ra một cơ cấu kinh tế mới, hợp lý và hiệu quả trong nông nghiệp, nông thôn. Do đó tất yếu phải chuyển nền kinh tế nông thôn với cơ cấu thuần nông, sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc là chủ yếu sang nền kinh tế nông thôn công nghiệp hoá với cơ cấu nông, công nghiệp, dịch vụ và sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lên một bước mới về chất làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu làm việc, cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn bằng các nguồn lực từ trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp. Với mục tiêu như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ngày càng được thúc đẩy và diễn ra ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp và các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn. Trong quá trình vận động và phát triển của mình, các làng nghề đã tỏ rõ vai trò tích cực đối với sự chuyển dịch này. Nó thể hiện ở chỗ góp phần tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn.
Trong thực tế sự ra đời và phát triển của các làng nghề ngay từ đầu đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. Điều đó có nghĩa là ở nông thôn khi nghề thủ công xuất hiện thì kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh nó còn có các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển. Trên góc độ phân công lao động thì làng nghề có tác động rất tích cực tới sản xuất nông nghiệp. Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Chẳng hạn, ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm phát triển yêu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp phải nhiều hơn, đa dạng hơn và chất lượng cao hơn.