đặt vấn đề cần chứng minh bằng cách giới thiệu về tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của vấn đề. Thân bài chứng minh vấn đề nêu ra bằng hệ thống các luận điểm và luận cứ khách quan, chính xác. Kết bài phải khẳng định lại tính đúng đắn của vấn đề hay tầm quan trọng của vấn đề đồng thời nêu ra bài học và đánh giá nếu có. Ngoài ra, một bài văn nghị luận đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ các phương pháp luận để tăng tính thuyết phục cho vấn đề cần chứng minh.
Các phương pháp thường được sử dụng như phương pháp giới thiệu, phương pháp giải thích, phương pháp phân tích, phương pháp chứng minh.Các dạng văn nghị luận gồm có 3 dạng đó là:Nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống, nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lý và nghị luận văn học. Bởi có nhiều dạng như vậy nên khi viết văn bản nghị luận ta thường phải sử dụng kết hợp một số yếu tố như yếu tố biểu cảm giúp tăng tính mềm mại cho vấn đề nghị luận, sử dụng ngôn ngữ và lời nói mang tính biểu cảm cao dễ đánh vào cảm xúc, tâm lý của người đọc, người nghe gây ấn tượng mạnh, tăng tính thuyết phục.Yếu tố tự sự, miêu tả làm bài văn nghị luận có mạch liên tưởng, dễ hình dung nhất là yếu tố miêu tả. d) Văn bản thuyết minh Văn thuyết minh là kiểu văn bản thường gặp trong mọi lĩnh vực của đời sống nhằm giới thiệu, trình bày, giải thích…làm rõ đặc điểm cơ bản của một sự vật, hiện tượng, cung cấp tri thức khách quan, chính xác, rõ ràng, hấp dẫn về đối tượng. Bố cục của văn bản thuyết minh cũng gồm 3 phần: Mở bài là giới thiệu đối tượng cần thuyết minh.
Thân bài là phần trình bày một số đặc điểm về đối tượng; giải thích nguyên nhân, nguồn gốc, cấu tạo …của đối tượng và công dụng. Cuối cùng là đánh giá về đối tượng cũng như khả năng, 16 vai trò ứng dụng của nó trong thực tế. Các biện pháp nghệ thuật thường dùng trong văn bản thuyết minh như kể chuyện, tự thuật, đối thoại theo lối ẩn dụ, nhân hoá, so sánh, các hình thức vè và diễn ca, … Cũng có thể kết hợp sử dụng yếu tố miêu tả vì yếu tố miêu tả có tác dụng làm cho đối tượng thuyết minh được nổi bật, gây ấn tượng. e) Văn bản hành chính công vụ Trình bày văn bản theo một số mục nhất định nhằm truyền đạt những yêu cầu của cấp trên hoặc bày tỏ ý kiến, nguyện vọng của cá nhân hay tập thể cơ quan và người có quyền hạn giải quyết…Văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ là văn bản điều hành xã hội.
Nó có chức năng xã hội với các thể loại chủ yếu là hiến pháp, luật, điều lệ, nội quy, các văn bản nghị quyết, thông báo, thông tư, bằng khen, văn bằng, chứng nhận, đơn từ các loại. Trong các văn bản hành chính công vụ việc lựa chọn từ ngữ chính xác về mặt nội dung là rất quan trọng, không nên dùng khẩu ngữ vì sắc thái biểu cảm âm tính, tính chủ quan không thích hợp với tính chất thể chế, trang trọng cần có của phong cách hành chính.Với những văn bản có nội dung cô đúc còn cần kèm theo các bản hướng dẫn thực hiện quy chế, thông tư. Văn miêu tả và dạy học văn miêu tả ở trường tiểu học 1. Khái quát chung về văn miêu tả Theo “Từ điển Tiếng Việt”, miêu tả là “Dùng lời văn hoặc nét vẽ mà biểu hiện cảnh vật hoặc nhân vật” còn trong sách Tiếng Việt 4: “Văn miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật giúp người đọc, người nghe có thể hình dung được các đối tượng ấy”.
Cũng có thể hiểu đơn giản miêu tả là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người. Miêu tả còn là dùng các chi tiết, hình ảnh giúp người đọc, người nghe hình dung ra được đặc điểm nổi bật của một sự việc, sự vật, con người, phong 17 cảnh làm cho đối tượng được nói đến như hiện ra trước mắt. Lê Phương Nga đã quan niệm văn miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong cuộc sống [20, tr142]. Tuy nhiên, miêu tả không chỉ là việc tái hiện lại sự vật, hiện tượng, con người một cách chi tiết và chính xác mà miêu tả còn là sự gửi gắm tâm tư, tình cảm, những đánh giá, nhận định khách quan và chủ quan của người viết.
Văn miêu tả được đưa vào chương trình Tiếng Việt ở tiểu học để giúp HS rèn luyện kĩ năng quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh; biết rung cảm trước cái hay, cái đẹp và truyền được những rung cảm, cảm xúc ấy vào đối tượng miêu tả; biết sử dụng các biện pháp tu từ mang giá trị biểu cảm cao, những câu văn sáng rõ về nội dung, liên kết chặt chẽ để sao cho người đọc như thấy hiện ra trước mắt mình những con người, cảnh vật, đồ vật…tồn tại trong thực tế. Để làm được một bài văn miêu tả hay, sống động đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp của nhiều môn học, có kiến thức trải nghiệm thực tế, vốn sống và vốn từ phong phú, đa dạng. Không những vậy, HS còn phải nắm được những đặc điểm cơ bản của văn miêu tả gồm: a. Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ và chứa đựng tình cảm của người viết Trong cuộc sống có nhiều sự vật hay, đẹp trở thành đối tượng của văn miêu tả.
Khi đó, người viết sẽ miêu tả đối tượng dựa trên quan niệm thẩm mĩ của bản thân bởi mỗi một cá nhân lại có những cách nhìn, cách cảm khác nhau về cùng một đối tượng. Đó chính là cái riêng, cái mới mang đậm dấu ấn cá nhân trong văn miêu tả. Đặc biệt, dù đối tượng miêu tả là một con người, một dòng sông hay chỉ là một cái cây, người viết sẽ vẫn luôn hướng tới những nét đẹp của đối tượng để mà tả và chứa đựng trong đó ít nhiều tình cảm, cảm 18 xúc gắn bó. Ví dụ như cùng miêu tả về cơn mưa, mỗi nhà văn dưới đây có những hình ảnh thẩm mĩ và cảm nhận khác nhau: “Mưa xối xả.
Cây cối trong vườn ngả nghiêng trong ánh chớp nhoáng nhoàng sáng lóa và tiếng sấm ì ầm lúc gần lúc xa. Mưa mỗi lúc một to, gió thổi tung những tấm rèm và lay giật những cánh cửa sổ làm chúng mở ra đóng vào ầm ầm. Hơi nước mát lạnh phả ngập vào gian phòng.Sau trận mưa đêm hôm ấy, suốt mấy tuần lễ tiếp theo, trời trong veo không một gợn mây. Mong mỏi mắt cơn mưa không quay trở lại.
Thì ra cơn mưa ấy chính là cơn mưa cuối cùng để bắt đầu chuyển sang mùa khô”.Mưa đến rồi, lẹt đẹt…lẹt đẹt…mưa giáo đầu. Những giọt nước lăn xuống mái phên nứa: mưa thực rồi. Mưa ù xuống khiến cho mọi người không tưởng được là mưa lại kéo đến chóng thế. Lúc nãy là mấy giọt lách tách, bây giờ bao nhiêu nước tuôn rào rào.
Nước xiên xuống, lao xuống, lao vào bụi cây. Lá đào, lá na, lá sói vẫy tai run rẩy. Con gà sống ướt lướt thướt ngật ngưỡng tìm chỗ trú. Mưa sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi nước tỏa trắng xóa.
Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình Một trong những mục đích của văn miêu tả là làm cho đối tượng được miêu tả như hiện ra trước mắt người đọc một cách sinh động như chính nó vốn có trong cuộc sống. Mặc dù văn miêu tả phát huy trí tưởng tượng, sự sáng tạo của người viết nhưng vẫn phải dựa trên những đặc điểm, tính chất thực sự của đối tượng như nhà văn Phạm Hổ cho rằng:“Cái riêng, cái mới trong văn miêu tả phải gắn với cái chân thật”.Để làm được điều này phụ thuộc rất nhiều vào sự quan sát tỉ mỉ, chi tiết cũng như khả năng diễn đạt ngôn từ đạt tới trình độ thuần thục của người viết. Ngoài ra, khi người viết cố gắng miêu tả một sự vật, sự việc, một phong cảnh nào đó thì các biện pháp tu từ trở nên hữu hiệu 19 trong việc góp phần làm cho đối tượng miêu tả thêm sinh động và rõ nét.Ví dụ như nhà văn Chu Lai đã sử dụng các hình ảnh đặc sắc kết hợp với biện pháp tu từ để tái hiện lại không gian yên tĩnh của rừng dầu đầy lá rụng một cách sinh động trong đoạn văn sau: Đang vào mùa rừng dầu trút lá. Tàu lá dầu liệng xuống như cánh diều, phủ vàng mặt đất.
Mỗi khi có con hoẵng chạy qua, thảm lá khô vang động như có ai đang bẻ chiếc bánh đa. Những cây dầu con mới lớn, phiến lá đã to gần bằng lá già rụng xuống. Lá như quạt nan che lấp cả thân cây. Văn miêu tả luôn chứa ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh Ngôn ngữ phản ánh hiện thực và chỉ có ngôn ngữ mới có thể diễn tả hiện thực khách quan.
Ngôn ngữ trong văn miêu tả là thứ ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh. Bản thân, người viết khi dử dụng ngôn từ đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc cá nhân hay những nhận xét, đánh giá mang tính chủ quan về đối tượng miêu tả. Ngoài ra, chính ngôn ngữ thường sử dụng trong văn miêu tả như từ láy, tính từ và các biện pháp tu từ như điệp ngữ, so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ đã góp phần tạo sự mềm mại, nhịp nhàng, uyển chuyển cho từng câu văn miêu tả, tạo nên những hình ảnh đặc sắc. Điều này khiến bất cứ sự vật, hiện tượng nào được văn miêu tả diễn đạt cũng trở nên có “hồn” và “sống” hơn bất cứ thể loại văn nào khác.
Trí tưởng tượng và sự sáng tạo của người viết cũng là yếu tố giúp bài văn miêu tả dễ dàng xây dựng nên những hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ, thoát ly khỏi sự “sáo rỗng”. Đoạn văn dưới đây chính là một ví dụ điển hình cho việc sử dụng ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh, gây ấn tượng mạnh mẽ và sâu đậm trong lòng người đọc: “Trời xuân chỉ hơi lạnh một chút vừa đủ để giữ một vệt sương mỏng như chiếc khăn voan vắt hờ hững trên sườn đồi. Rừng hôm nay như một ngày hội của màu xanh, màu xanh với nhiều sắc độ đậm nhạt, dày mỏng khác nhau.