Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC VỚI SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Tự học Học là một trong hai hoạt động cơ bản của quá trình dạy và học. Tự học cũng là hình thức tổ chức dạy học song tự học mang tính độc lập và có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học.
Phát triển KNTH cho HS là biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả dạy học và nâng cao chất lượng bộ môn. Trong bối cảnh ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học - kĩ thuật, công nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hóa thì tự học ngày càng quan trọng hơn bao giờ hết. Tự học sẽ giúp chúng ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, trì trệ và kém phát triển, chủ động vươn lên để chiếm lĩnh tri thức, thu nhận những thành tựu tiến bộ của xã hội. Vì vậy, tự học luôn là vấn đề được nhiều nhà giáo dục quan tâm và nghiên cứu.
Có rất nhiều định nghĩa về tự học như: Tác giả Thái Duy Tuyên trong tập bài giảng chuyên đề “Dạy tự học cho sinh viên” trong các nhà tường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học đã viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, KN, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp…), cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm LS xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [47, tr. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học là quá trình chủ thể dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi sau đó sử dụng nhiểu yếu tố như năng lực trí tuệ, phẩm chất cá nhân, thế giới quan, động cơ tình cảm để chiếm lĩnh tri thức của nhân loại và biến những tri thức đó thành sở hữu của riêng mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Trong cuốn “PPDH LS” do Phan Ngọc Liên chủ biên, tác giả đã đưa ra khái niệm về tự học như sau: “Tự học của HS là việc nắm vững kiến thức LS một cách chính xác, vững chắc và có thể vận dụng một cách thành thạo. Việc tự học phải được tiến hành với sự hứng thú, say mê và ý thức trách nhiệm, tinh thần lao động cần cù… độc lập hoàn thành những nhiệm vụ được giao” [29, tr.
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì: Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản. Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và KN do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và SGK đã được qui định. Theo Nguyễn Quang Đạo: “Khi nhận thức đúng vai trò của tự học đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho công việc và cho sự tiến bộ của xã hội thì tự học sẽ là công việc tự giác của mỗi người” (dẫn theo [1, tr. Tác giả Trịnh Quang Từ cho rằng “Tự học là quá trình chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hoạt động của chính mình, hướng tới mục đích nhất định” (dẫn theo [1, tr.
Tác giả Phạm Văn Vượng quan niệm: “Tự học là hình thức học ngoài giờ lên lớp bằng sự nỗ lực, ý thức của cá nhân theo kế hoạch học tập, có thể có mặt trực tiếp của GV hoặc không” (dẫn theo [1, tr. Từ những nghiên cứu trên chúng ta có thể hiểu, tự học là một quá trình mà trong đó chủ thể tự mình chiếm lĩnh những tri thức bằng các hoạt động tư duy, bằng ý chí nghị lực của bản thân với tinh thần tự giác cao nhất để hoàn thành nhiệm vụ được giao hay nhằm đạt được mục tiêu do chính mình đề ra. Năng lực và năng lực tự học - Năng lực: Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực.
Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Đứng về góc độ tâm lý học, năng lực trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu từ thế kỷ XIX, trong các công trình thực nghiệm của F.Ganton năng lực có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt động mới nào đó. Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau.
Năng lực gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách. Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”. Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ.) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn.
Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên chúng tôi định nghĩa như sau: Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Như vậy, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói về một lĩnh vực cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực dạy học của hoạt động giảng dạy. NL của HS là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, KN mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội. - Nội dung của năng lực tự học NLTH cũng là một khả năng, một phẩm chất “vốn có” của mỗi cá nhân.
Tuy nhiên nó luôn luôn biến đổi tùy thuộc vào hoạt động của cá nhân trong môi trường văn hóa - xã hội. NLTH là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng phải được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ được những ưu điểm giúp cho cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi là khả năng tiềm ẩn. Thời gian mỗi chúng ta ngồi trên ghế nhà trường là rất ngắn ngủi so với cuộc đời vì vậy TH và NLTH của HS sẽ là nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự thành công của các em trên con đường phía trước và đó cũng chính là nền tảng để các em TH suốt đời. Như vậy, theo chúng tôi NLTH là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập.
Kĩ năng Theo Từ điển Tiếng việt, “KN là khả năng vận dụng những kiến thức đã nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế” [48, tr. Trên phương diện Tâm lý học, khi nói về KN thường có hai quan điểm khác nhau: Thứ nhất, KN là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi những tri thức đã lĩnh hội được, những thói quen và kinh nghiệm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c của bản thân. Xem KN là mặt kĩ thuật của hành động, coi KN như một phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện mà con người đã nắm vững, không cần quan tâm đến kết quả. Thứ hai, xem KN là biểu hiện NL của con người, coi KN là NL thực hiện một công việc có kết quả nhất định, trong một khoảng thời gian cụ thể.
Tác giả Nguyễn Thị Côi đã khẳng định trong cuốn “Rèn luyện KN nghiệp vụ sư phạm LS”: “người có KN về một hành động nào đó là người phải có: tri thức về hành động, thực hiện hành động đúng với mục đích của nó, phải đạt được hiệu quả như mục đích đã đề ra…”. Từ đó, tác giả rút ra kết luận: “Có thể hiểu KN là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [16, tr. Như vậy, bằng những mục tiêu và điều kiện cụ thể, KN là khả năng thực hiện đúng những hành động mà con người hướng tới.