Chương 1: Cơ sở khoa học của việc tích hợp phát triển kỹ năng nói cho HS lớp 12 trong dạy học đọc hiểu VBTT Chương 2: Mục tiêu, nội dung, cách thức tích hợp phát triển kỹ năng nói cho HS lớp 12 trong dạy học đọc hiểu VBTT Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 12 NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC TÍCH HỢP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN 1. Khái quát chung về VBTT 1.1 Khái niệm VBTT Trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành 2006 [8], khái niệm VBTT (informational text) chưa xuất hiện, trong khi từ nhiều thập niên trước, VBTT đã là một nội dung dạy học quan trọng trong chương trình môn Ngữ văn của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, mỗi nước sử dụng những tên gọi khác nhau để chỉ loại văn bản này. Chẳng hạn, chương trình môn Ngữ văn của Hoa Kì, Singapore, Úc sử dụng khái niệm VBTT (informational text) trong mối tương quan với khái niệm văn bản văn chương (literary text) hay văn bản tưởng tượng, hư cấu (imaginative text), và văn bản thuyết phục (persuasive text).
Còn chương trình Ngữ văn của nước Anh và New Zealand thì không sử dụng khái niệm VBTT mà sử dụng khái niệm văn bản phi hư cấu (non-fiction text) bên cạnh văn bản hư cấu (fiction text). Có rất nhiều cách phát biểu khác nhau về khái niệm VBTT. Chương trình môn Ngữ văn 2018 định nghĩa: VBTT là loại văn bản chủ yếu dùng để cung cấp thông tin. Tuy nhiên, cách định nghĩa như vậy khá chung chung, chưa cho phép phân biệt VBTT với các loại VB khác, chẳng hạn VB văn học, vì VB văn học cũng có mục đích cung cấp thông tin.
Các nhà nghiên cứu nước ngoài như Nell K.Y, Katie Surber, Andrew Sedillo, Langer, Michael R.Graves, mỗi người phát biểu một quan điểm riêng về khái niệm VBTT. Tuy nhiên, một cách chung nhất, các nhà nghiên cứu trên đều quan niệm VBTT là loại văn bản phi hư cấu (non- fiction texts) mà mục đích chính của nó là trình bày thông tin một cách khách 13 quan, khoa học. Đây cũng là quan niệm của chúng tôi về khái niệm VBTT trong luận văn này.2 Đặc điểm của VBTT Ngoài những đặc điểm của văn bản nói chung, VBTT có những đặc điểm riêng như sau: a) VBTT có tính phổ biến: Cuộc sống không thể không có thông tin, VBTT mang sứ mệnh cung cấp tri thức cho mọi người để đảm bảo duy trì và phát triển sự sống. Vì vậy, VBTT là loại văn bản được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội.
VBTT cung cấp thông tin cho đông đảo người đọc, người nghe; thông tin được truyền tải dưới nhiều hình thức, đa dạng về mặt thể loại. Đó là những VB rất thông dụng trong đời sống, công việc hằng ngày như đơn từ, công văn, văn bản nghị luận, bài thuyết trình, bài phát biểu, toa thuốc, văn bản quảng cáo, đề thi, bản hướng dẫn thực hiện một công việc, tự truyện, hồi kí, báo cáo khoa học, văn bản khoa học trong SGK, video/clip,. b) VBTT có tính hữu dụng: VBTT thường đề cập đến những nội dung liên quan đến cuộc sống xã hội con người, những vấn đề được đề cập thường có ý nghĩa thiết thực, nhằm thông báo một sự kiện, giải thích một hiện tượng nào đó trong cuộc sống, hoặc hướng dẫn cách thức, quy trình thực hiện một hoạt động nào đó. VBTT cũng thường đề cập, bàn luận, thuyết minh, tường thuật, miêu tả, đánh giá.
về những vấn đề, những hiện tượng gần gũi, bức xúc trong cuộc sống của con người và cộng đồng. Trên cơ sở những thông tin đó, con người biết cách xử trí hoặc chọn cách giải quyết vấn đề kịp thời, phù hợp. c) VBTT có tính khoa học: VBTT bao giờ cũng trình bày thông tin một cách khách quan, khoa học; cung cấp thông tin về đối tượng một cách cụ thể, chi tiết, giúp người đọc, người nghe dễ hiểu, dễ vận dụng. Trong VBTT, các tác giả thường sử dụng 14 cách thức hoặc phương tiện hỗ trợ người đọc trong việc tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả như sử dụng từ ngữ kỹ thuật; minh họa bằng thực tế hoặc hình ảnh; đánh số chương mục và những phương tiện đa dạng như biểu đồ, bảng biểu, sơ đồ, chữ in đậm hoặc in nghiêng, ghi chú, minh họa bằng âm nhạc, kí hiệu.
Ngôn từ trong VBTT có tính khoa học thường mang tính chính xác, cụ thể, ít dùng ẩn dụ, biểu tượng ngôn từ như trong văn bản văn chương giúp người đọc tiếp nhận thông tin chính xác. d) VBTT có tính phi hư cấu: Vì có mục đích chính là cung cấp thông tin nên các VBTT thường được trình bày khách quan, khoa học, đơn nghĩa, phi hư cấu. Nếu chứa yếu tố hư cấu và nghệ thuật, VBTT sẽ chuyển sang địa hạt văn bản nghệ thuật và mục đích chính là cung cấp thông tin sẽ bị hạn chế, nhiễu loạn. Vì vậy, nội dung VBTT phải là những tri thức khách quan về các chủ đề, vấn đề, sự kiện, quá trình,… đã và đang xảy ra trong thực tế.
Ví dụ: một bản hướng dẫn quy trình thực hiện, một bài báo khoa học, một bản tin, một bài tổng quan về lịch sử văn học… đều được coi là những VBTT có tính phi nghệ thuật. Theo Duke (2000) và Weinstein (2003), trong khi văn bản văn chương được đánh giá cao vì khả năng miêu tả, soi rọi thế giới tình cảm của con người thì VBTT có tính phi nghệ thuật cung cấp cho chúng ta những kiến thức về thế giới tự nhiên và xã hội.3 Các kiểu dạng VBTT VBTT tồn tại dưới dạng các bài báo, tạp chí, từ điển, sách giáo khoa, sách viết về danh nhân, sách hướng dẫn (du lịch, sử dụng thuốc, nấu ăn.), pano, áp phích… VBTT có thể được trình bày dưới dạng kênh chữ kết hợp với các kênh khác như hình ảnh, kí hiệu, âm thanh. nên VBTT thường là văn bản đa phương thức (multimedia text). Phân loại VBTT có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện văn bản, cũng như định hướng dạy học đọc hiểu, tạo lập VBTT cho HS.
Dựa vào phong cách chức năng ngôn ngữ, một số nhà nghiên cứu phân loại VBTT 15 gồm: văn bản phong cách khoa học, văn bản phong cách báo chí, văn bản phong cách hành chính- công vụ, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt… Tuy nhiên, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt lại nằm trên đường biên của VBTT và văn bản nghệ thuật, vì vậy cách phân loại này còn có điểm chưa thỏa đáng. Dựa vào cách phân loại văn bản theo phương thức biểu đạt, VBTT gồm có các loại: + VBTT chỉ dẫn: chỉ dẫn hành động, tín hiệu, cách thức sử dụng hoặc làm sản phẩm. + VBTT giới thiệu: một số sự vật, hiện tượng, sách, phim, quy trình tiến hành thí nghiệm. + VBTT trần thuật: việc làm, sự kiện lịch sử.
+ VBTT thông báo: giấy mời, tin nhắn, thư điện tử. + VBTT thuyết minh: đối tượng, sự vật. + VBTT hành chính – công vụ: đơn từ, kiến nghị, báo cáo, tường trình. + VBTT giải thích: hiện tượng xã hội, tự nhiên.
+ VBTT tổng hợp: thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận. + VBTT báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội, có sử dụng sơ đồ, bảng biểu, có thuyết minh các hình ảnh minh họa, có sử dụng trích dẫn, cước chú và phần tài liệu tham khảo. + VBTT đa phương tiện: là một dạng văn bản sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để chuyển tải nội dung cần thiết đến người nhận. Để thuận tiện cho việc theo dõi, đồng thời gần gũi, phù hợp với thực tiễn giảng dạy ở trường THPT, chúng tôi dựa vào cách phân loại này khi đề 16 cập đến nguyên tắc, cách thức phát triển kĩ năng nói cho HS lớp 12 trong dạy học VBTT ở các phần sau.
Vị trí, cấu trúc của phần VBTT trong chương trình môn Ngữ văn lớp 12 hiện hành và chương trình phổ thông môn Ngữ văn 2018 VBTT có một vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội cũng như trong cuộc đời của mỗi người. Tuy nhiên kiểu văn bản này lại chưa được khai thác đúng nghĩa trong nhà trường phổ thông. Cụ thể, trong chương trình Ngữ văn hiện hành, VBTT là một khái niệm hoàn toàn mới lạ, mới chỉ xuất hiện “văn bản nhật dụng” và văn bản thuyết minh… Trong chương trình Ngữ văn 12 hiện hành (2006) chỉ có 06 tiết về VBTT, cụ thể: - Bài “Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến hết thế kỉ XX” [3; tr. - Bài “Thông điệp nhân Ngày thế giới phòng chống AIDS, 01-12-2003 [3; tr.
- Bài “Quá trình văn học và phong cách văn học” [3;tr. - Bài “Giá trị văn học và tiếp nhận văn học” [3;tr.184-194]; - Bài “ Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” [4;tr. Với thời lượng ít ỏi, chỉ 06 tiết và cả 06 tiết về bản thông tin đều tập trung cung cấp những thông tin về một giai đoạn văn học, về tác giả, tác phẩm, và các vấn đề mang tính thời sự. Theo cấu trúc chương trình, các tiết về văn bản thông tin được phân bố ở cuối kì 1 và đầu kì 2.
So với chương trình hiện hành thì cấu trúc và nội dung chương trình Ngữ văn 2018 được xây dựng theo hướng mở. Chương trình Ngữ văn 2018 không quy định chi tiết cụ thể về nội dung dạy học bằng các văn bản cụ thể mà chỉ gợi ý những văn bản bắt buộc và bắt buộc lựa chọn đồng thời chỉ quy định những yêu cầu cần đạt về 4 kĩ năng đọc, viết, nói, nghe, định hướng nội dung các VBTT cần lựa chọn. 17 Như vậy môn Ngữ văn trong chương trình 2018 ngoài việc hướng tới giúp HS có cơ hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, biết đồng cảm, sẻ chia, có cá tính và đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn còn có nhiệm vụ phát triển năng lực HS thông qua 4 kỹ năng quan trọng là đọc, viết, nói, nghe. Ngoài các năng lực chung, chương trình môn Ngữ văn mới 2018 tập trung giúp HS phát triển năng lực giao tiếp và năng lực thẩm mỹ; cung cấp hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng về văn học và tiếng Việt để góp phần phát triển vốn học vấn căn bản của một người có văn hoá; hình thành và phát triển con người nhân văn, biết tiếp nhận, cảm thụ, thưởng thức, đánh giá các sản phẩm ngôn từ và các giá trị cao đẹp trong cuộc sống, biết tự tin trình bày một vấn đề.