phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài đƣợc bố cục thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Các nguồn lực tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn Chƣơng 3: Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIẾN 1. Những vấn đề chung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1. Khái niệm Công nghiệp hóa (CNH) Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa (theo Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ƣơng khoá 7): " CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng SLĐ thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp sản xuất tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiên bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao" [ 7] - Đặc điểm của CNH, HĐH ở nƣớc ta: Thứ nhất, CNH theo định hƣớng XHCN Thứ hai, CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức Thứ ba, CNH đƣợc tiến hành trong điều kiện cơ chế thị trƣờng có sự điều tiết của nhà nƣớc. Thứ tư, CNH, HĐH đƣợc tiến hành trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, vì thế mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu đối với nƣớc ta.
Quan niệm về công nghiệp hoá Để thủ tiêu tình trạng nghèo nàn lạc hậu, khai thác tối ƣu các nguồn lực và lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trƣởng nhanh, ổn định, giải quyết cơ bản các vấn đề kinh tế xã hội bức bách, mỗi quốc gia phải xác định đƣợc cơ cấu kinh tế hợp lý, trang bị kỹ thuật hiện đại và ứng dụng rộng rãi các phƣơng pháp sản xuất tiên tiến cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Quá trình ấy gắn với quá trình công nghiệp hoá, sự gắn bó ở đây là gắn bó hữu cơ, chặt chẽ. Trong thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về phạm trù công nghiệp hoá. Ta có thể rút ra nhận xét về công nghiệp hoá nhƣ sau: - Quá trình công nghiệp hoá nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân chứ không phải nhằm mục tiêu kinh tế - kỹ thuật.
Nội dung của quá trình công nghiệp hoá là đƣa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, thực hiện cách mạng khoa học công nghệ và phân công lại lao động xã hội. Do vậy, nó động chạm đến tất cả các ngành kinh tế quốc dân chứ không chỉ riêng công nghiệp. - Xét trong quan hệ với xây dựng xã hội chủ nghĩa, quá trình công nghiệp hoá gắn liền với thời kỳ quá độ nên khi kết thúc thời kỳ quá độ nhiệm vụ trọng tâm của phát triển kinh tế sẽ thay đổi. Tuy rằng các quốc gia cùng thực hiện công nghiệp hoá nhƣng mục tiêu và quá trình thực hiện các quốc gia sẽ không giống nhau do điều kiện kinh tế - xã hội và quan điểm công nghiệp hoá khác nhau.
Bản chất công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc định nghĩa về công nghiệp hoá một cách khái quát không phải là điều dễ. Bởi thế chúng ta cần hiểu một cách thống nhất bản chất của quá trình công nghiệp hoá, trên cơ sở vận dụng phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi quốc gia. Bản chất công nghiệp hoá bao hàm những mặt sau: * Thứ nhất: Công nghiệp hoá là nhiệm vụ tất yếu, một quy luật có tính phổ biến đối với tất cả các quốc gia để chuyển từ trạng thái lạc hậu kém phát triển và phụ thuộc sang một xã hội phát triển và văn minh. * Thứ hai: Mục tiêu của công nghiệp hoá là bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh, ổn định và vững chắc, khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nƣớc để nâng cao đời sống vật chất - tinh thần cho dân cƣ, xây dựng xã hội văn minh công nghiệp.
Mục tiêu này đƣợc thực hiện dần từng bƣớc trong mỗi giai đoạn có mục tiêu ƣu tiên riêng. * Thứ ba: Công nghiệp hoá gồm nhiều nội dung khác nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Những nội dung cơ bản có tính phổ biến là: ứng dụng kỹ thuật và công nghệ sản xuất hiện đại đối với tất cả các ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân trƣớc hết là những ngành quan trọng nhất: - Xây dựng những yếu tố cơ bản nhằm khai thác, bảo tồn tái tạo các nguồn lực. Đặc biệt là những nguồn lực tự nhiên mang lại.
- Xây dựng cơ cấu đa ngành. Sự cân đối giữa các ngành, các vùng đƣợc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân xem xét trong điều kiện kinh tế mở để phát huy lợi thế mỗi nƣớc. - Phân công lao động xã hội lại theo ngành và theo vùng. * Thứ tư: Công nghiệp hoá là một quá trình mang tính quy luật gắn liền với quá trình phát triển của mỗi quốc gia.
Để đánh dấu sự kết thúc của quá trình rộng lớn phức tạp lâu dài này cần có những tiêu chuẩn nhất định. * Thứ năm: Công nghiệp hoá cũng chính là hiện đại hoá. Để thực hiện những mục tiêu và nội dung cơ bản ở trên cần có những bƣớc đi điều kiện, giải pháp thích ứng. Cơ sở khoa học việc thực hiện công nghiệp hoá Ngày nay có nhiều học thuyết khác nhau về thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, muốn hoạch định chính sách, chiến lƣợc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hƣớng CNH, HĐH cần nghiên cứu vận dụng nhiều học thuyết kinh tế khác nhau.
Có thể các học thuyết tiêu biểu là: - Học thuyết Mác - Lênin - Thuyết cất cánh của W.Rostow - Học thuyết Keynes [9] 1. Lý luận về phát triển kinh tế xã hội 1. Quan niệm về phát triển kinh tế Khái niệm phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) mọi mặt về kinh tế trong một thời điểm nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội [11] Hiện nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải qua một thời gian, khái niệm về phát triển đã dần đi đến thống nhất.
Phát triển kinh tế đƣợc hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển kinh tế đƣợc xem nhƣ là quá trình biến đổi cả về lƣợng và chất; nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Theo cách hiểu nhƣ vậy, nội dung của phát triển kinh tế đƣợc khái quát theo ba tiêu thức: Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên mỗi đầu ngƣời. Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lƣợng của nền kinh tế, là điều kiện cần để Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân nâng cao mức sống vật chất và thực hiện các mục tiêu khác của sự phát triển.
Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế. Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế. Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nƣớc với nhau, ngƣời ta thƣờng dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt đƣợc. Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội.
Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong mỗi quốc gia không phải là tăng trƣởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dƣỡng, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nƣớc sạch, trình độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân, tuổi thọ bình quân tăng,.Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển. Các tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế - Đánh giá tăng trưởng kinh tế + Tổng giá trị sản xuất (GO – Gross output) Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ đƣợc tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kì nhất định (thƣờng là một năm). Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất có thể đƣợc tính theo hai cách. Thứ nhất, đó là tổng doanh thu bán hàng thu đƣợc từ các đơn vị, các ngành trong toàn bộ nền kinh tế.
Thứ hai, tính trực tiếp từ sản xuất và dịch vụ gồm chi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ (VA). + Tổng sản phẩm quốc nội (GDP- Gross domestic product) Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định. Để tính GDP, có ba cách tiếp cận cơ bản là từ sản xuất, tiêu dùng và phân phối. Trong cách tiếp cận từ sản xuất, GDP là giá trị gia tăng tính cho toàn bộ nền kinh tế, nó đƣợc đo bằng tổng giá trị gia tăng của tất cả các đơn vị sản xuất thƣờng trú trong nền kinh tế: Nhƣ vây: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân.
Tiếp cận từ chi tiêu, GDP là tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia đình (C), chi tiêu của chính phủ (G), đầu tƣ tích lũy tài sản (I) và chi tiêu qua thƣơng mại quốc tế, tức là giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ kim ngạch nhập khẩu (X - M) GDP = C + I + G + (X - M) .