CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI, CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1.1 CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1.1 Khái niệm Ở thế kỷ XVII, XVIII khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây Âu, công nghiệp hóa (CNH) được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc. Khái niệm công nghiệp hóa mang tính lịch sử, nó phản ánh sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học công nghệ. Việc nhận thức đúng khái niệm này trong từng giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn. Kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rút kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành CNH và từ thực tiễn CNH ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ bẩy khóa VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Khái niệm CNH trên được Đảng xác định rộng hơn những quan niệm trước đó, bao hàm cả về hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp tiên tiến hiện đại cùng với kỹ thuật và công nghệ cao. Như vậy, CNH theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây.2 Sự cần thiết của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 3 Mỗi phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được xác lập vững chắc trên cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng. Cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phải xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến.
Muốn thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng nói trên, nhất thiết phải tiến hành CNH tức là chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp. Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển cũng cần phải có nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội cần phải xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ. Cơ sở vật chất kỹ thuật đó phải tạo ra được một năng suất lao động xã hội cao.
CNH chính là quá trình tạo ra nền tảng cơ sở vật chất đó cho nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất, kỹ thuật thấp kém, trình độ lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mới được thiết lập, chưa được hoàn thiện. Vì vậy, quá trình CNH chính là quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Mỗi bước tiến của quá trình CNH, HĐH là một bước tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa về kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại phát triển rất nhanh chóng, những thuận lợi và khó khăn về khách quan và chủ quan có nhiều thời cơ và cũng có nhiều cơ hội mới, vừa cản trở, thách thức nền kinh tế của chúng ta, đan xen với nhau, tác động lẫn nhau. Vì vậy, Việt Nam phải chủ động sáng tạo 4 nắm lấy thời cơ, phát huy những thuận lợi để đẩy nhanh quá trình CNH tạo ra thế và lực nhằm vượt qua những khó khăn, đẩy lùi nguy cơ, đưa nền kinh tế tăng trưởng, phát triển bền vững.3 Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá gồm: Phát triển lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá, hợp lý và hiệu quả cao. Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nội dung cụ thể của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là: Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn.
Phát triển toàn diện nông, lâm ngư nghiệp gần với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ hải sản nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông, lâm, ngư nghiệp, bảo đảm vững chắc yêu cầu an toàn lương thực cho xã hội, tạo nguồn nguyên liệu có khối lượng lớn, chất lượng cao, giá thành hạ, đủ tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến, tăng giá trị và khối lượng hàng xuất khẩu, tăng thêm việc làm và thu nhập cho người lao động, phân công lại lao động xã hội, hình thành các điểm công nghiệp gắn liền với đô thị hoá tại chỗ, mở mang thị trường sản phẩm và dịch vụ cho công nghiệp. Phát triển công nghiệp. Hướng ưu tiên phát triển công nghiệp là các ngành chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin. Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trong những ngành trọng yếu mà nhu cầu đòi hỏi bức bách và có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường để phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả (năng lượng - nhiện liệu, vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa chữa tàu thuỷ, luyện kim, hoá chất).
Cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng vật chất của nền kinh tế. Trong cơ chế thị trường, kết cấu hạ tầng có vai trò hết sức 5 quan trọng đối với sự phát triển của sản xuất, kinh doanh và đời sống của dân cư. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, kết cấu hạ tầng của nền kinh tế nước ta thấp kém, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất kinh doanh và của đời sống dân cư. Do vậy, trong những năm trước mắt, việc xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế được coi là một nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Do khả năng tài chính có hạn, trong những năm trước mắt, việc xây dựng kết cấu hạ tầng phải tập trung vào khâu cải tạo, mở rộng, nâng cấp. Việc xây dựng mới chỉ có mức độ và phải tập trung vào những khâu trọng điểm, có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế hoặc vùng kinh tế. Có như vậy mới tạo điều kiện cho mở rộng đầu tư phát triển, nhất là việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài. Phát triển nhanh du lịch, các ngành dịch vụ.
Phát triển ngành du lịch và các ngành dịch vụ như hàng không, hàng hải, bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, pháp lý, thương mại. trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ của nhân dân. Mức thu nhập, mức sống càng cao, nhu cầu về các loại dịch vụ của dân cư càng lớn. Phát triển dịch vụ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư.
Phát triển dịch vụ còn nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh. Trong cơ chế thị trường, hiệu quả của các doanh nghiệp tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố như doanh nghiệp có đủ vốn kinh doanh không, thông tin cho doanh nghiệp có kịp thời, đầy đủ, chính xác không, hàng hoá sản xuất ra có bán được không, nhanh hay chậm. Do đó, sự phát triển của các ngành ngân hàng, thông tin bưu điện, thương mại, giao thông vận tải. trực tiếp quyết định hiệu quả của các ngành sản xuất vật liệu, kinh doanh.
Sự phát triển của ngành du lịch, một mặt cho phép khai thác các tiềm năng du lịch, tăng thu nhập, tạo việc làm cho dân cư … mặt khác nó còn góp phần mở rộng giao lưu, phát triển kinh tế đối ngoại, mở cửa nền kinh tế. Bởi vậy, phát triển nhanh ngành du lịch, dịch vụ được coi là một nội dung của CNH, HĐH ở nước ta trong những năm trước mắt. Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) vùng, lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế, tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau, làm cho tất cả các vùng cùng nhau phát triển.
Trong những năm 6 trước mắt phải tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm có điều kiện sớm đưa lại hiệu quả cao, đồng thời phải hỗ trợ cho những nơi khó khăn, đẩy mạnh hợp tác phát triển, bảo đảm cho các vùng, các lãnh thổ và các thành phần dân cư đều có lợi và đều được hưởng thành quả của sự tăng trưởng kinh tế. Kết hợp phát triển và quản lý theo ngành với phát triển và quản lý theo lãnh thổ. Về phương hướng phát triển vùng lãnh thổ ở nước ta trong thời gian tới là phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm có mức tăng trưởng cao, tích luỹ lớn, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng khác trên cở sở phát huy thế mạnh của từng vùng, liên kết với trọng điểm tạo mức tăng trưởng khá.