phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương với nội dung chính như sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về đô thị hóa và khái quát chung về thị trấn Sa Pa Chương này đề cập đến những cơ sở lý luận chung về đô thị và đô thị hóa;phát triển đô thị bền vững. Đồng thời, nêu những nét khái quát về vị trí địa lý, đặc điểm dân cư, cấu trúc không gian gian của thị trấn Sa Pa; Khái quát sự phát triển của thị trấn Sa Pa từ khi hình thành cho đến nay. Qua đó có cái nhìn khái quát về sự phát triển của thị trấn Sa Pa trong những giai đoạn trước để lấy đó làm cơ sở so sánh với giai đoạn phát triển sau này. Chƣơng 2: Thực trạngkinh tế - xã hội thị trấn Sa Pa giai đoạn 1991-2011 Chương này đi nghiên cứu về đặc điểm và sự chuyển biến về mặt kinh j tế - xã hội của thị trấn Sa Pa trong giai đoạn 1991 - 2011.
Đây là giai đoạn Sa Pa có quá trình ĐTH diễn ra mạnh nhất và có sự chuyển biến rõ nét nhất. Kết 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quả nghiên cứu của chương này sẽ là cơ sở để đánh giá sự tác động của quá trình ĐTH tới kinh tế - xã hội của thị trấn ra sao, có ảnh hưởng như thế nào? Chƣơng 3: Định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội thị trấn Sa Pa đến năm 2020. Một số giải pháp và đề xuất Trên cơ sở phân tích về những chuyển biến KT-XH sẽ đưa ra những định hướng phát triển TT Sa Pa đến năm 2020, từ đó đưa ra những giải pháp và đề xuất phát triển. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRẤN SA PA 1. Một số vấn đề lý luận về phát triển đô thị 1. Định nghĩa Đô thị: Ngôn ngữ Latin dùng từ “urbs” để chỉ đô thị, tiếng Anh là “urban”. Trong tiếng Việt hiện đại có các từ chỉ đô thị: thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố, thành thị.
Các từ song lập nói trên gồm: “thành, đô, trấn” và “thị, phố, phường” nhấn mạnh về ý nghĩa hành chính, quân sự (đô) và kinh tế - xã hội (thị). Hai nhóm yếu tố tạo nên thị trên có mối quan hệ đặc biệt, tương tác, hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong sự tồn tại và phát triển của đô thị. Sự cộng sinh (đô + thị) chưa thể trở thành đô thị, mà cần những yếu tố bổ sung khác mới đưa đến sự hình thành đô thị theo đúng nghĩa [2]. Thực tế trên thế giới, mỗi quốc gia có những tiêu chuẩn khác nhau về đô thị.
Ví dụ như ở Brazil, chỉ có thủ đô mới là đô thị; ở Thụy Sỹ, chỉ những khu vực hoặc là có 10.000 dân hoặc đã được trao thể chế thành phốthời trung cổ mới được gọi là thành phố; ở Hoa Kỳ, thành phố là thuật ngữ để chỉ một khu định cư có mức độ tự quản cao hơn là có ý nghĩa chỉ một khu vực định cư rộng lớn, các khu định cư sẽ trở thành thành phố hay thị trấn sau khi cư dân của khu định cư này bỏ phiếu để tổ chức khu tự quản cho riêng mình, quy mô dân số tối thiểu của một thành phố là 50. Ở Việt Nam, khái niệm đô thị có sự thay đổi theo thời gian. Thông tư liên tịch số 02/2002-TTLT-BXD-TCCBCP hướng dẫn về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị nêu rõ: “Đô thị là một khu dân cư tập trung có đủ hai điều kiện: về cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập; về trình độ phát triển, đô thị là 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT – XH của một vùng lãnh thổ, tỷ lệ lao động của khu vực nội thành, nội thị xã, thị trấn tối thiểu đạt 65% tổng số lao động, cở sở hạ tầng tối thiểu đạt 70% mức quy chuẩn xây dựng, quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu 2000 người/km2”. Thông tư số 34/2009 TT-BXD quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ về Phân loại đô thị đã định nghĩa: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT – XH của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn” [21].
Đô thị vệ tinh là đô thị có hệ thống quản lý riêng, độc lập về hành chính, nhưng nằm trong cơ cấu của một thành phố lớn, chịu sự định hướng chiến lược , điều tiết của trung tâm đô thị [1]. Khu đô thị mới là những đô thị được xây dựng trên những khu đất trước đó chưa có đô thị nào và phương pháp xây dựng, quy hoạch cũng như ý niệm đô thị học của chúng đều mới [2]. Đô thị sinh thái là đô thị phát triển hài hòa với tự nhiên, dựa vào tự nhiên và được tự nhiên chấp nhận như là một thành phần hữu cơ của tổng thể, nghĩa là đạt được sự cân bằng động của hệ sinh thái đô thị [21]. Mạng lưới đô thị là một hệ thống đô thị liên kết với nhau thông qua cơ sở hạ tầng.
Mạng lưới đô thị được coi là một hệ thống bởi chúng bao gồm nhiều các cấp khác nhau, giữa các cấp trong một mạng lưới đô thị có quan hệ đặc biệt với nhau. Đô thị bền vững là đô thị đảm bảo cân bằng được mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa kinh tế đô thị; văn hóa xã hội đô thị, môi trường sinh thái đô thị; cơ sở hạ tầng đô thị và quản lý đô thị. Một đô thị bền vững phải bảo đảm được các tiêu chí: quản lý tốt, tài chính lành mạnh, cạnh tranh tốt và điều kiện sống tốt [23]. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lãnh thổ đô thị Nghị định 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 về phân loại đô thị của Chính phủ quy định: “đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập” và nêu rõ: Thành phố được chia thành nội thành phố và ngoại thành phố. Thị xã được chia thành nội thị xã và ngoại thị xã. Đối với thành phố trực thuộc Trung ương, khu vực nội thành được chia thành quận và quận chia thành phường; khu vực ngoại thành được chia thành thị xã và huyện, huyện được chia thành xã, thị trấn. Thị trấn không có vùng ngoại thị trấn [21].
Ngoài ra, nước ta còn có “thị tứ”. Thị tứ chưa phải là điểm dân cư đô thị, nhưng là trung tâm của xã hoặc liên xã, tập trung nhiều công trình mang tính đô thị, là mầm mống của các điểm dân cư đô thị theo hướng ĐTH nông thôn [21] [23]. Cấu trúc của đô thị Đô thị được coi như là một hệ điều khiển mở, luôn biến đổi theo thời gian và không gian, do vậy không thể có một mô hình cấu trúc đô thị chuẩn. Tuy nhiên, có thể phân biệt ba bộ phận cấu trúc nên một thể thống nhất của đô thị là: - Phần cấu trúc cứng: Luôn đi với mạng lưới hạ tầng kỹ thuật cứng chủ đạo và các bộ phận thiên nhiên phải bảo tồn.
- Phần cấu trúc mềm: Đi với mạng lười hạ tầng xã hội cơ động, có khả năng chuyển thể theo mức sống, nếp sống của xã hội và tâm lý con người cùng với các bộ phận của thiên nhiên được phép tác động tôn tạo. - Phần cấu trúc điều hòa: Đi với các dạng tổ chức hoạt động phát triển của cộng đồng gắn kết hai phần “cấu trúc cứng” và “cấu trúc mềm” trong 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từng thời gian và không gian cụ thể, trong đó bao gồm cả chính sách quản lý, những ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật [5]. Phân loại đô thị Trên thế giới có rất nhiều cách phân loại đô thị khác nhau: Theo qui mô dân số, có đô thị nhỏ, đô thị trung bình, đô thị lớn, siêu đô thị. Theo chức năng, có đô thị công nghiệp, đô thị hành chính, đô thị cảng v.v… Mỗi quốc gia có quy định riêng về tiêu chuẩn, tiêu chí trong một cách phân loại đô thị.
Chẳng hạn về quy mô dân số, nhiều quốc gia quy định: đô thị nhỏ có quy mô dân số từ 5.000 người; đô thị trung bình là 11.000 – 20 vạn người; đô thị lớn là 21 vạn – 50 vạ người; đô thị cực lớn là 51 vạn – 10 triệu người và siêu đô thị trên 10 vạn người. Ở Việt Nam, quy định quy mô dân sô của đô thị nhỏ là 4.000 – 3 vạn người; đô thị trung bình 3 vạn – 35 vạn người, đô thị lớn từ 35 vạn – 1 triệu người và đô thị rất lớn có trên 1 triệu người [20] [19]. Nhìn chung mỗi cách phân loại đô thị đều có nhưng ưu nhược điểm riêng. Hầu hết các quốc gia đều đưa ra các hệ thống phân bậc đô thị một cách tổng hợp.
Theo đó, trọng Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/05/2009 của Chính phủ chia hệ thống đô thị nước ta thành 6 loại: - Đô thị loại đặc biệt, có chức năng đô thị là Thủ đô hoặc đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, tài chính, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT – XH của cả nước. - Đô thị loại I, là đô thị thuộc Trung ương có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đô thị loại II, có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh.