CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm văn hóa và quan điểm văn hóa cư dân sông nước E.B Tylor định nghĩa: “Văn hóa là một tổng thể phức hợp bao gồm các kiến thức, những tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng và thói quen mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội.” (được trích dẫn bởi Lê Văn Chưởng, 1999, tr. Các kiến thức, những tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục… thiên về các yếu tố tinh thần. Khái niệm này phần lớn đề cập đến những vấn đề liên quan đến xã hội và đời sống tinh thần nhiều hơn. Con người là chủ thể của nền văn hóa, đời sống của con người vô cùng phong phú và đa dạng.
Ngoài những yếu tố tinh thần thì con người cần sản xuất vật chất để nuôi sống xã hội. Đời sống của con người không chỉ đơn thuần là tạo ra các sản phẩm tinh thần còn phải có của cải vật chất. Vật chất mới là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến tính chất của các yếu tố tinh thần trong đời sống xã hội của con người. Những sinh hoạt vật chất của con người cũng nên được đưa vào định nghĩa của văn hóa.
Trần Ngọc Thêm (1999) cho rằng: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội". Văn hóa có tính giá trị, theo mục đích phục vụ cho đời sống vật chất (giá trị vật chất), phục vụ đời sống tinh thần (giá trị tinh thần). Muốn nhận diện một hiện tượng có phải là giá trị văn hóa hay không cần phải nhìn nhận tính “giá trị” và “phi giá trị” của nó. Đồng thời, đặt hiện tượng đó vào trong một bối cảnh lịch sử xã hội nhất định để nhận diện.
Việc nhận diện được đâu là các giá trị văn hóa đã góp phần hình thành các chuẩn mực, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Văn hóa của một địa phương là hệ thống các giá trị về mặt vật chất và tinh thần của cư dân bản địa. Tính 14 giá trị của văn hóa góp phần cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của một địa phương. Kluckhohn (1951) cho rằng: “Giá trị văn hóa là một ý niệm tường minh hay hàm ẩn về những điều mong muốn có tác động đến sự lựa chọn phương tiện hay mục đích hành động từ những cách thức sẵn có, đặc trưng của một cá nhân hay một nhóm người” (được trích dẫn bởi Nguyễn Hòa, 2018, tr.
Giá trị văn hóa mang tính chủ thể là con người. Trong quá trình sinh sống với môi trường tự nhiên và xã hội, giá trị văn hóa là sự lựa chọn hành động của con người. Mỗi cộng đồng sẽ có những giá trị văn hóa khác nhau vì những gì “sẵn có” ở mỗi địa phương của những cộng đồng đó cũng khác nhau. Trong khi Rokeach (1986) định nghĩa giá trị văn hóa là: tiêu chuẩn dẫn dắt hành động đã được thấm nhuần… và một niềm tin lâu bền rằng một phương thức cư xử hay tình trạng tồn tại cuối cùng nào đó được xã hội hay cá nhân ưa thích hơn các phương thức cử xử hay tình trạng tồn tại khác” (được trích dẫn bởi Nguyễn Hòa, 2018, tr.
Theo quan niệm này thì giá trị văn hóa là tiêu chuẩn để dẫn dắt hành động của con người. Giá trị văn hóa mang tính ổn định lâu dài hơn so với các yếu tố xã hội khác. Giá trị văn hóa là một phương thức cư xử hay tình trạng tồn tại của xã hội được con người lựa chọn trong quá trình sinh sống của bản thân và cộng đồng. Khái niệm giá trị văn hóa được nhiều tác giả đề cập đến.
Mỗi khái niệm đều có những ưu thế riêng phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết, luận văn sử dụng khái niệm giá trị của Trần Ngọc Thêm. Tính giá trị của văn hóa phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng. Bên cạnh đó, tính giá trị của văn hóa cần được đặt trong một bối cảnh cụ thể để đánh giá và phân tính “giá trị” và “phi giá trị” một cách phù hợp.
Trần Quốc Vượng (2006) đã chia văn hóa ra các thành tố: tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, nghề thủ công, sân khấu chèo, tuồng, kịch, nghệ thuật âm thanh, phong tục tập quán, nghệ thuật tạo hình, lối sống, nhiếp ảnh, điện ảnh, văn chương, mass media, thông tin, tín hiệu, kiến trúc, nghệ thuật kinh điển. Tùy từng địa phương cụ thể mà các thành tố này sẽ có những giá trị văn hóa khác nhau do chủ thể của nền văn hóa đó qui định. Các thành tố của văn hóa là những giá trị được nhận diện trong một 15 không gian, thời gian văn hóa nhất được. Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau những giá trị văn hóa có thể sẽ khác nhau dưới sự nhìn nhận của chủ thể văn hóa là con người.
Tùy theo mục đích khai thác các giá trị văn hóa mà các thành tố sẽ được phân chia vào từng nhóm khác nhau. Văn hóa sông nước là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên, thuật ngữ văn hóa sông nước chưa phải là một khái niệm trong nghiên cứu khoa học. Vì vậy, nhiều bài nghiên cứu sử dụng “Văn hóa sông nước” trong ngoặc kép để phân tích.
Thuật ngữ Văn hóa sông nước có nhiều cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào mỗi tác giả đang nhìn nhận ở góc độ nào. Vincent (1999) nhận định văn hóa sông nước xuất phát từ thuật ngữ gốc là “une culture du fleuve describing an anthropological collection of cultural features linked to a river such as the Rhone”, Văn hóa sông nước được mô tả là một tập hợp nhân chủng học của những đặc trưng văn hóa có liên quan đến một dòng sông như Rhone chẳng hạn) (được trích dẫn bởi K.4, phần tiếng Việt tác giả luận văn dịch). Wantzen và các cộng sự (2016) sử dụng thuật ngữ văn hóa sông nước để mô tả cách tiếp cận dưới góc độ xã hội học sinh thái nhằm mục đích bảo tồn đa dạng sinh học và văn hóa ở các dòng sông (tr. Trong thuật ngữ văn hóa sông nước gốc thì thiên về những đặc điểm nhân chủng học của một nền văn hóa gắn với một con sông cụ thể nào đó.
Còn trong cách tiếp cận của K. Wantzen chủ yếu sử dụng thuật ngữ này cho việc tiếp cận các dòng sông và bảo vệ văn hóa, sinh thái ở khu vực đó. Cả hai thuật ngữ đều chưa đề cập đến tính giá trị của văn hóa cư dân ở các dòng sông. Ban Tuan Nang.
(2002) nhận định rằng: “River culture can be understood as an implication of culture, the product of mankind, created and developed in the reciprocal relationship between human and society”. Văn hóa sông nước có thể được hiểu như một hàm ý của văn hóa, một sản phẩm của con người, được hình thành và sáng tạo trong mối quan hệ lẫn nhau giữa con người và xã hội (tr.113, phần tiếng Việt tác giả luận văn dịch). Văn hóa sông nước theo khái niệm này là một sản phẩm của con người. Sản phẩm này được hình thành cũng do con người tạo ra trong sự tương 16 tác giữa con người với xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình sinh sống của con người ngoài tương tác với môi trường xã hội còn phải tương tác với môi trường tự nhiên trong tổ chức sinh kế. Khái niệm này chủ yếu nhắc đến các yếu tố về mặt xã hội của khái niệm văn hóa mà không đề cập đến yếu tố tự nhiên. Như vậy, nhận định này không nhắc đến yếu tố tự nhiên mà cụ thể là sông nước cần được làm rõ trong thuật ngữ “Văn hóa sông nước”. Nguyễn Thị Phương Anh (2020) nhận định: “Văn hóa sông nước là loại hình văn hóa gốc nông nghiệp với nghề chính là nghề trồng lúa nước.
Thuật ngữ này được nhận định khá đơn giản chưa bao quát được nội hàm của văn hóa sông nước. Có lẽ tác giả sử dụng thuật ngữ này trong bài viết liên quan đến ca dao, tục ngữ nên đã không đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến giá trị của văn hóa sông nước khác. Trong nhận định chỉ đề cập đến nghề nông, tuy nhiên không chỉ mỗi giá trị văn hóa sông nước của nghề nông mà còn rất nhiều ngành, nghề, lĩnh vực gắn với sông nước khác. “Văn hóa cộng đồng là các giá trị, thái độ, hành vi, tín ngưỡng mà cộng đồng chia sẻ với nhau, với người khác và về thế giới tự nhiên họ sống trong đó”.
(Nguyễn Tuấn Anh, được trích dẫn bởi Trần Thị Thu Nhung, 2018, tr. Khái niệm này đề cập đến các giá trị trong sự tương tác của cộng đồng đó với môi trường tự nhiên và xã hội nơi họ sinh sống. Văn hóa cộng đồng thể hiện những giá trị của cộng đồng đó trong một không gian tự nhiên nơi họ cư trú. Đồng thời, văn hóa cộng đồng còn thể hiện giá trị văn hóa trong quá trình tương tác với môi trường xã hội.
Còn theo nhận định của Phạm Hồng Tung (2010) cho rằng: “Văn hóa cộng đồng là văn hóa ứng xử của cộng đồng, tức là phương thức và nguyên tắc ứng xử của một cộng đồng trong những môi trường, không gian và thời gian lịch sử nhất định. Theo khái niệm này văn hóa cộng đồng là văn hóa ứng xử của một cộng đồng nào đó trong một bối cảnh xã hội nhất định. Văn hóa cộng đồng là những nguyên tắc ứng xử của một cộng đồng trong một không gian văn hóa, thời gian văn hóa dưới sự điều phối của chủ thể văn hóa là con người. Theo quan điểm này thì văn hóa cộng đồng thiên về văn hóa ứng xử.
17 Từ việc tham khảo các nhận định về văn hóa sông nước và khái niệm văn hóa cộng đồng của các tác giả trước, đề tài rút ra định nghĩa: Văn hóa cư dân sông nước là hệ thống các giá trị văn hóa của cộng đồng cư dân gắn với môi trường sông nước. Như vậy, thuật ngữ Văn hóa cư dân sông nước này nhấn mạnh ở tính giá trị. Trong phạm vi của luận văn, đề tài giới hạn giá trị văn hóa cư dân sông nước gồm: giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa tinh thần. Giá trị văn hóa vật chất sẽ được trình bày bao gồm những giá trị văn hóa của các nghề truyền thống gắn với môi trường sông nước của địa phương.