Chương 1:Cơ sở lý luận về phát triển kinh doanh của doanh nghiệp và cơ hội, thách thức của TPP đối với kinh doanh sản phẩm công nghiệp hỗ trợ Việt Nam. Chương 2:Ảnh hưởng của hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương tới phát triển kinh doanh của công ty TNHH thương mại và công nghiệp Minh Quang Chương 3:Phương hướng và một số giải pháp phát triển kinh doanh của công ty TNHH thương mại và công nghiệp Minh Quang trong bối cảnh TPP đi vào thực thi 16 CHƢƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CƠ HỘI, THÁCH THỨCTỪ TPP ĐỐI VỚI KINH DOANH SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm, nội dung phát triển kinh doanh của doanh nghiệp Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào tồn tại trên thị trường nếu không phải hoạt động phi lợi nhuận, từ thiện, cộng đồng thì bộ phận kinh doanh luôn được coi là “lá phổi”.
Kinh doanh chính là khởi điểm cho mọi hoạt động phát sinh trong doanh nghiệp. Có hoạt động kinh doanh mới có quá trình sản xuất hàng hóa, sản phẩm (trung gian/cuối cùng), đội ngũ lao động mới có việc làm, các sáng tạo cũng như máy móc mới được phát minh, hoạt động và ngày càng cải tiến (đặc biệt là trong ngành công nghiệp). Chính hoạt động kinh doanh là bộ phận tạo ra giá trị gia tăng, đóng góp vào quá trình phát triển của doanh nghiệp nói riêng và kinh tế, xã hội nói chung. Hoạt động kinh doanh cũng đóng góp vào quá trình cải tiến, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ cung cấp mà người được hưởng lợi cuối cùng luôn là chính con người.
Phát triển hoạt động kinh doanh là một quá trình mà trong đó bao gồm từ việc xây dựng kế hoạch, định hướng cho tới thực hiện, điều chỉnh và đánh giá kết quả kinh doanh trong một thời gian, giai đoạn cụ thể. Hay nói đơn giản, phát triển kinh doanh của một doanh nghiệp hay công ty là một sự kết hợp của những phân tích chiến lược, của tiếp thị và bán hàng. Sự chuyên nghiệp trong phát triển kinh doanh có thể bao hàm tất cả mọi mặt từ việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ của người sử dụng lao động, cho đến sự sáng tạo trong chiến lược tiếp thị, doanh số bán hàng, đàm phán và việc đóng các chương trình khuyến mại. Công việc phát triển kinh doanh chuyên nghiệp thường là để xác định cơ hội kinh doanh mới - cho dù đó có nghĩa là thị trường mới, quan hệ đối tác mới với các 17 doanh nghiệp khác, những cách thức mới để tiếp cận thị trường đang hoạt động, hoặc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ mới để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường hiện tại – và sau đó đi ra ngoài và khai thác những cơ hội để mang lại nhiều doanh thu hơn.
Không phân biệt là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, đã có chỗ đứng trên thị trường hay mới gia nhập, thậm chí chỉ là một bộ phận phát triển kinh doanh độc lập hoặc là những nhân viên mà việc làm chính của họ xoay quanh chức danh “phát triển kinh doanh”, thì công việc chủ yếu được đề cập đến sẽ là liên quan tới việc tìm cách để bán, mua hàng và/hoặc tiếp thị. Đó có thể là biểu hiện cơ bản trong thực tế của hoạt động phát triển kinh doanh. Các tiêu chí phản ánh phát triển kinh doanh của doanh nghiệp Đánh giá các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một giai đoạn, quá trình, khoảng thời gian mới có thể có căn cứ xác định tình hình kinh doanh của doanh nghiệp là đang phát triển hay đang gặp vấn đề, tắc nghẽn,… Các tiêu chí để đánh giá và tiến hành điều chỉnh là hoạt động cuối cùng nhưng lại là hoạt động luôn diễn ra liên tục trong các nội dung liên quan đến hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp thương mại. Đây luôn được coi là một hoạt động quan rất quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt trong với các hoạt động kinh doanh hiện tại cũng như sau này của doanh nghiệp.
Hoạt động này đòi hỏi phải được tiến hành chính xác, cụ thể và nghiêm túc trong suốt quá trình, từ khâu xác định các tiêu chí đánh giá, thực hiện đánh giá hay điều chỉnh. Khi xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, cần phải dựa vào hệ thống các tiêu chuẩn, các doanh nghiệp phải coi các tiêu chuẩn là mục tiêu phấn đấu. Các tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là mốc xác định ranh giới có hay không có hiệu quả. Không nhất thiết các doanh nghiệp, công ty trong cùng một ngành nghề, lĩnh vực sẽ cùng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá.
Các tiêu chí đánh giá luôn có sự tương đối, phù hợp với từng đặc điểm và khả năng của mỗi doanh nghiệp. Một trong những phương pháp so sánh đơn giản nhất đó là so sánh tình hình hoạt động, phát triển của doanh nghiệp với toàn ngành – tính theo giá trị bình quân đạt được của ngành làm tiêu chuẩn hiệu quả. Nếu không có số liệu của toàn ngành 18 thì có thể so sánh với các chỉ tiêu của năm trước. Qua các so sánh, đối chiếu các doanh nghiệp có thể tự xác định được rằng với các chỉ tiêu này, doanh nghiệp của mình hoạt động như thế nào theo không gian (quy mô trong ngành), hay theo thời gian.
Các doanh nghiệp cần đạt ít nhất bằng với các tiêu chí đặt ra này mới có thể được đánh giá đạt các chỉ tiêu về kinh tế, hay hoạt động kinh doanh có hiệu quả, hay có sự phát triển kinh doanh hay không? Đối với doanh nghiệp thì hiệu quả kinh doanh càng cao, đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh phát triển, có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư cơ sở, nâng cao uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp trên cơ sở lợi nhuận thu được tăng cao. Phát triển hoạt động kinh doanh là vấn đề phức tạp, có liên quan đến toàn bộ các yếu tố của quá trình kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu quả kinh doanh khi sử dụng và phối hợp các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh một cách linh hoạt và đạt hiệu suất cao. Hiệu quả kinh doanh = Tổng kết quả thu được – Tổng các chi phí bỏ ra Công thức trên chỉ là mô tả cơ bản nhất về hiệu quả kinh doanh.
Có thể đưa ra một số tiêu chí đánh giá hiệu quả phát triển kinh doanh của doanh nghiệp như sau: - Các tiêu chí về sản phẩm: Các tiêu chí này nhằm đánh giá sự phát triển về sản phẩm của doanh nghiệp trong thời gian hoạt động trên thị trường. Thực tế với sự chuyên môn hóa và định hướng theo chuỗi giá trị sản xuất như hiện nay, các chỉ tiêu này cũng giảm dần các hệ số về quy mô, số lượng mà tập trung hơn về các hệ số chất lượng, giá trị, tính phức tạp, đầu tư trong sản phẩm. Ví dụ cơ bản, sự đa dạng về sản phẩm như mẫu mã (ngoại trừ các mặt hàng tiêu dùng) không còn là sự ưu tiên trong nghiên cứu phát triển sản phẩm nữa mà chuyển dần sang các hướng như đa dạng trong tính năng sản phẩm, thời gian sử dụng sản phẩm,… - Các tiêu chí về doanh thu, lợi nhuận kinh doanh: Các chỉ tiêu trong nhóm này chủ yếu là mang tính chất tỷ lệ, so sánh theo con số. Dựa trên các thống kê về thực trạng kinh doanh, chi phí sản xuất, vốn đầu tư, tốc độ tiêu thụ trên thị trường để có thể có căn cứ xác định hoạt động của kinh doanh tại thời điểm nghiên cứu, 19 tính toán đang ở tình trạng như thế nào, nằm trong giới hạn cho phép hay vượt ra ngoài.
Các tỷ lệ có thể cho biết các thông tin như sự liên quan giữa chi phí hoạt động, tiêu thụ sản phẩm với doanh thu tương ứng để có cơ sở tìm ra biện pháp giảm chi phí tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh; hay biết được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp để nhận ra trình độ sử dụng vốn hiện tại, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao việc quản lý vốn và chi tiêu; hay mối liên quan giữa lợi nhuận và doanh thu để doanh nghiệp có thể xác định lộ trình nhằm đảm bảo tốc độ tăng doanh thu luôn phải lớn hơn tốc độ tăng chi phí để đảm bảo hoạt động kinh doanh là có hiệu quả và phát triển;… - Các tiêu chí về sử dụng yếu tố đầu vào cơ bản: Đây là các chỉ tiêu để đánh giá về năng lực quản lý, hoạt động của công ty, doanh nghiệp. Xuất phát từ tối ưu hóa chi phí, sử dụng có hiệu quả nguyên vật liệu, các tiêu chí đánh giá việc sử dụng các yếu tố đầu vào cơ bản cho doanh nghiệp nắm được tình trạng, hiệu quả sử dụng lao động của công ty như năng suất của lao động hiện tại (bình quân một lao động mang lại bao nhiêu đồng giá trị kinh doanh); mối liên quan giữa tiền lương và doanh thu (một đồng chi phí tiền lương mang lại bao nhiêu đồng doanh thu); so sánh giữa thời gian lao động thực tế và thời gian lao động định mức để đánh giá hiệu suất sử dụng thời gian của lao động trong doanh nghiệp. Các tiêu chuẩn khác cũng có thể liệt kê ra trong nhóm các tiêu chí này đó là hiệu suất sử dụng các nguồn vốn như sự liên quan giữa vốn cố định/vốn lưu động và doanh thu (một đồng vốn cố định/vốn lưu động mang lại bao nhiêu doanh thu/lợi nhuận); mối quan hệ giữa vốn cho lao động với doanh thu/lợi nhuận; tốc độ quay vòng vốn trong 1 hoạt động kinh doanh cụ thể;… Từ các kết quả đánh giá hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp hoàn toàn sẽ nhận thấy những mặt còn tồn tại trong hoạt động của công ty. Sự điều chỉnh có thể theo các định hướng phụ thuộc vào khả năng của đáp ứng và thích nghi của doanh nghiệp: điều chỉnh theo từng phần hay điều chỉnh toàn bộ các hoạt động.
Đối với các doanh nghiệp thì hiệu quả của phát triển kinh doanh không chỉ là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của 20 doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng được khuyến khích và thậm chí là yêu cầu mở rộng, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh phải có hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện phát triển để mở rộng quy mô và phát triển kinh tế.