CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Khái niệm của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư là một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm dành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. Theo Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 17/06/2020, hiệu lực thi hành ngày 01/01/2021, quy định tại Điều 3: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm: - Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài - Doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước Đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - Hình thức đầu tư Doanh nghiệp được thành lập với 100% vốn đầu tư nước ngoài Công ty nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam Công ty/ tổ chức có sự hợp tác đầu tư kinh doanh theo hợp đồng BCC. Trong đó, BCC là hình thức thỏa thuận hợp pháp giữa các nhà đầu tư với nhau, với mục đích hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, sản phẩm theo quy định của Pháp luật, hình thức này không phải thành lập doanh nghiệp/ tổ chức kinh tế. - Hình thức: Doanh nghiệp FDI khá đa dạng, có thể theo quy mô kỳ vọng của mỗi tổ chức.
Chẳng hạn như công ty TNHH một thành viên, 2 thành viên, Công ty Cổ phần, Công ty hợp danh. - Quyền và nghĩa vụ: Bắt buộc phải tuân theo pháp luật Việt Nam, được hưởng nhiều chính sách ưu đãi dành riêng cho các doanh nghiệp FDI. - Mục đích: Với mục đích hợp tác, phát triển lâu dài, đồng thời mở rộng thị trường kinh doanh đa quốc gia để mang lại lợi nhuận như kỳ vọng, các doanh nghiệp FDI hợp tác với tổ chức kinh tế tại Việt Nam. 4 Vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - Phát triển kinh tế: FDI giúp tăng cường nguồn vốn đầu tư, cải thiện công nghệ, tạo việc làm và thúc đẩy xuất khẩu, từ đó đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia.
Sự đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng giúp mở rộng quy mô hoạt động của các doanh nghiệp trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh. Điều này có thể tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế và cải thiện môi trường kinh doanh, từ đó giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. - Tạo điều kiện giao thương: Mỗi quốc gia có mức thuế nhập khẩu khác nhau, điều này khiến hoạt động giao thương trở nên khó khăn hơn. Có FDI, các khía cạnh thương mại quốc tế có thể trở nên dễ dàng hơn rất nhiều, bởi nhiều lĩnh vực kinh tế yêu cầu sự hiện diện của nhà sản xuất quốc tế nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu.
- Tạo việc làm cho người dân: Các doanh nghiệp FDI thường có quy mô hoạt động lớn và có nhu cầu sử dụng lực lượng lao động để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi các doanh nghiệp FDI đầu tư vào một quốc gia mới, họ cần xây dựng và trang bị các nhà máy, văn phòng, nhà kho và các cơ sở hạ tầng khác. Điều này sẽ tạo ra nhu cầu về lao động để thực hiện các công việc này. - Đồng thời, khi thu nhập tăng lên, sức mua của người dân địa phương cũng tăng theo, giúp thúc đẩy tổng thể mục tiêu kinh tế của một quốc gia.
- Tạo ra nguồn thuế trực tiếp: FDI thường phải trả thuế trực tiếp cho chính phủ, bao gồm thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác. Các nguồn thuế này đóng góp vào nguồn thuế của quốc gia nhận đầu tư. - Phát triển nguồn nhân lực: Doanh nghiệp FDI thường đưa vào quốc gia nhận đầu tư các công nghệ hiện đại và phương pháp quản lý tiên tiến, từ đó giúp cải thiện năng lực sản xuất và cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. Điều này tạo ra cơ hội cho người lao động trong nước học hỏi và tiếp cận với các công nghệ, phương pháp quản lý mới, từ đó giúp phát triển nguồn nhân lực mạnh mẽ.
- Chuyển giao tài nguyên: Thông qua quá trình đầu tư, các doanh nghiệp FDI có thể chuyển giao các công nghệ, kỹ thuật, quy trình sản xuất và các tài nguyên khác từ quốc gia đầu tư sang quốc gia thu hút đầu tư. Điều này có thể giúp các quốc gia nhận đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra các sản phẩm/ dịch vụ có giá trị cao hơn. Thông qua quá trình chuyển giao tài nguyên, các quốc gia nhận đầu tư có thể học hỏi và áp dụng các công nghệ, phương pháp quản lý hiện đại, tăng cường hiệu suất công việc. - Tăng thu nhập của một quốc gia: Vai trò của FDI bao gồm việc gia tăng thu nhập của nước thu hút đầu tư.
Với cơ hội việc làm nhiều hơn, mức lương cao hơn, thu nhập quốc gia tăng, điều này góp phần lớn vào việc thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. 5 Thư viện ĐH Thăng Long 1. Khái niệm và vai trò của phát triển khách hàng doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các ngân hàng Khái niệm ngân hàng thương mại Luật tổ chức tín dụng Việt Nam 2010: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện các tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu của hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh danh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”. (Phạm Thị Thu Hà, Ngân hàng thương mại 2013, trang 18,19) Khái niệm phát triển khách hàng doanh nghiệp Phát triển khách hàng tập trung vào việc hiểu rõ mong muốn, nhu cầu của khách hàng Ngân hàng cũng như bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển lâu dài trên thị trường đều cần phải có khách hàng của riêng mình vì khách hàng là yếu tố sống còn và có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi ngân hàng. Ngoài các khách hàng hiện hữu, ngân hàng cần thu hút và phát triển thêm các đối tượng khách hàng mới nhằm mở rộng quy mô khách hàng, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Phát triển khách hàng đối với ngân hàng hay bất kỳ doanh nghiệp nào cần thực hiện thông qua 4 bước cơ bản: Hình 1. Mô hình phát triển khách hàng (Nguồn: Steven Gary Blank (2018), The four steps to Epiphany, trang 16) - Bước 1: Khám phá khách hàng: Đây là giai đoạn lắng nghe, tiếp xúc, khám phá khách hàng và thử nghiệm. Ngân hàng cần thử nghiệm xem những giả thuyết mình đặt ra có thật sự đúng hay không bằng cách xây dựng SPDV mẫu để lấy phản hồi về nhu cầu của khách hàng nhằm kiểm định thị trường trước khi đi vào hoàn thiện SPDV chính thức. 6 - Bước 2: Kiểm chứng khách hàng: Ngân hàng đã có SPDV ở dạng căn bản nhất để bán cho những khách hàng đầu tiên sử dụng SPDV và tiếp nhận phản hồi cũng như ý kiến đóng góp cho ngân hàng.
Từ những phản hồi này, ngân hàng có cơ sở thực tiễn để cải tiến SPDV của mình theo đúng nhu cầu thực tế của khách hàng và hình thành giá trị cốt lõi cho SPDV. - Bước 3: Nhân rộng khách hàng: Ngân hàng bắt đầu nhân rộng, phát triển khách hàng khi các SPDV ngân hàng cung cấp có thể bán ra thị trường và được khách hàng đón nhận. - Bước 4: Xây dựng doanh nghiệp: Đây là giai đoạn mà ngân hàng cần cơ cấu (hoặc tái cơ cấu) tổ chức và quản lý, đồng thời nhìn lại nhiệm vụ đã đặt ra cho ngân hàng và có những thay đổi cho phù hợp với thị trường mục tiêu. Như vậy, phát triển khách hàng doanh nghiệp FDI tại ngân hàng là việc mở rộng đối tượng doanh nghiệp FDI thiết lập quan hệ và sử dụng các SPDV của ngân hàng thông qua các chiến lược riêng của mỗi ngân hàng.
Các ngân hàng xác định khách hàng doanh nghiệp FDI là đối tượng khách hàng mục tiêu và cung cấp các SPDV phù hợp với nhu cầu của các khách hàng này. Trên cơ sở lắng nghe phản hồi của khách hàng, ngân hàng tập trung mở rộng phát triển khách hàng. (Steven Gary Blank. 2018, trang 16-19) Vai trò phát triển khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng - Quyết định thành công hay thất bại của ngân hàng Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế quốc tế, quá trình cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng trở nên phổ biến, dẫn đến khách hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi ngân hàng, nó là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của ngân hàng.
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều ngân hàng và các SPDV của ngân hàng cũng hết sức phong phú và đa dạng. Chính điều này đem đến quyền chọn lựa cho các khách hàng. Ngân hàng nào cung cấp SPDV phù hợp nhất với các chính sách chăm sóc tốt nhất sẽ được khách hàng lựa chọn nhiều nhất. Nếu khách hàng không thỏa mãn với SPDV của ngân hàng thì họ sẽ sẵn sàng lựa chọn SPDV của ngân hàng khác do sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng.
Như vậy, ngân hàng sẽ mất đi khách hàng của mình và không tiếp tục bán được SPDV, gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và có thể dẫn tới việc không tồn tại được trên thị trường. Mọi ngân hàng đều kinh doanh giống nhau đó là bán cho khách hàng sự hài lòng. Ngân hàng hay bất cứ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại không có cách nào khác chính là đáp ứng nhu cầu của khách hàng.