phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Giới thiệu về Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Vũng Tàu. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về huy động vốn và kế toán huy động vốn tại ngân hàng. Chƣơng 3: Kế toán các nghiệp vụ huy động vốn và thực trạng huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh Vũng Tàu. Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kế toán huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh Vũng Tàu.
Mặc dù vậy, để giải quyết vấn đề một cách trọn vẹn đòi hỏi phải có thời gian và kiến thức thực tế phong phú. Song vì thời gian nghiên cứu không nhiều, kinh nghiệm và trình độ chuyên môn còn hạn chế, hơn nữa đề tài là một vấn đề khá rộng nên bài viết khó tránh khỏi những khiếm khuyết. Tôi kính mong nhận đƣợc sự chỉ bảo của thầy cô cũng nhƣ Ban lãnh đạo và các anh chị tại NHNo&PTNT Chi nhánh Vũng Tàu để bài viết đƣợc hoàn chỉnh hơn. 2 CHƢƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH VŨNG TÀU 1.
Lịch sử hình thành và phát triển ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ( NHNo&PTNT) Việt Nam. Thực hiện đƣờng lối đổi mới của Đảng và xác định hoàn thiện hệ thống Ngân hàng luôn là khâu then chốt, Hội đồng bộ trƣởng (nay là Chính phủ) đã ban hành nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988 về việc thành lập các Ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam – tiền thân của NHNo&PTNT ngày nay. Từ khi thành lập đến nay, NHNo&PTNT Việt Nam mang rất nhiều tên gọi khác nhau gắn liền với những nhiệm vụ khác nhau của từng thời kỳ phát triển kinh tế đất nƣớc: Ngân hàng Phát triển Nông Nghiệp Việt Nam (giai đoạn 1988 – 1990); Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (giai đoạn 1990 - 1996); NHNo&PTNT Việt Nam (giai đoạn 1996 – nay ). Hơn 20 năm lịch sử đã qua với nhiều thăng trầm và sự kiện đáng ghi nhớ NHNo&PTNT Việt Nam đã dần khẳng định đƣợc vị thế của mình và trở thành Ngân hàng thƣơng mại hàng đầu Việt Nam.
Tên giao dịch quốc tế là: Vietnam Bank of Agriculture and Rural Development. Viết tắt là: AGRIBANK Ngay từ khi mới thành lập, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam đối mặt với muôn vàn khó khăn tƣởng chừng không vƣợt qua nổi. Tổng nguồn vốn 1.056 tỷ đồng, trong đó vốn huy động chỉ chiếm 42% còn lại 58% phải vay từ Ngân hàng nhà nƣớc.126 tỷ đồng trong đó 93% là ngắn hạn; tỷ lệ nợ xấu trên 10%. Tổng tài sản chƣa tới 1.
Trong tổng số trên 36.000 cán bộ lúc đó chỉ có 10% trình độ đại học, cao đẳng còn lại là trung cấp, sơ cấp hoặc chƣa đƣợc đào tạo. Khách hàng hoàn toàn là các doanh nghiệp quốc doanh và các hợp tác xã với phần lớn là làm ăn thua lỗ, lao động thiếu việc làm, nguy cơ phá sản luôn rình rập. Đối mặt với nhiều thách thức, ngay từ ngày đầu Ngân hàng triển Nông triển khai một số giải pháp mạnh nhằm chuyển hƣớng thành một Ngân hàng thƣơng mại tự chủ, đó là: tập trung đầu tƣ cho kinh doanh lƣơng thực; mạnh dạn thí điểm cho vay trực tiếp đến hộ nông dân; mở rộng kinh doanh đa năng; xúc 3 tiến mở ra các hoạt động kinh doanh đối ngoại…Với những cố gắng này, ngân hàng Phát triển Nông nghiệp bƣớc đầu đã xác lập đƣợc vị thế trong hệ hống Ngân hàng. Trải qua giai đoạn phát triển thăng trầm với nhiều khó khăn đó, từ năm 1996 hoạt động của Agribank có sự thay đổi về chất, vừa kế thừa, vừa phát huy truyền thống, vừa tạo đƣợc những yếu tố đột phá trên nhiều phƣơng tiện về năng lực tài chính, công nghệ, tổ chức, cán bộ và quản trị điều hành hƣớng đến chuẩn mực, thông lệ hiện đại.
Đặc biệt theo Báo cáo tài chính năm 2013, đến 31/12/2013, tổng nguồn vốn tại Agribank là 634.505 tỷ đồng, trong đó vốn huy động đạt 626.012 tỷ đồng (tƣơng ứng 15,99%) so với đầu năm. Tổng dƣ nợ cho vay nền kinh tế đạt 530.600 tỷ đồng, tăng 50.147 tỷ đồng (tƣơng ứng 10,4%) so với cuối năm 2012, trong đó: cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 73% với trên 12 triệu hộ gia đình; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 38% với gần 3 vạn doanh nghiệp dƣ nợ. Doanh thu dịch vụ đạt 2.405 tỷ đồng, tăng 10,96% so với 2012, dịch vụ thẻ tăng 27,4%, thanh toán trong nƣớc tăng 11%, thu ngoài tín dụng đạt 7,86%. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế Agribank đã không ngừng nỗ lực và phát triển mạnh về mọi mặt.
Cụ thể, tạo bƣớc đột phá trong triển khai các dự án tin học để đến hôm nay hình thành nền móng công nghệ cơ bản cho một ngân hàng hiện đại, kết nối trực tuyến toàn hệ thống; cho phép triển khai và ứng dụng tất cả các dịch vụ ngân hàng hiện đại nhƣ Thẻ quốc tế, Internet Banking, Mobile Banking,. Bên cạnh đó, việc phát triển nhân lực luôn là ƣu tiên phát triển hàng đầu của ngân hàng. Đến nay, trong tổng số trên 3 vạn cán bộ, 51% có trình độ đại học và trên đại học; 80% có trình độ vi tính cơ bản. Agribank còn mở rộng mạng lƣới hoạt động của mình trên khắp cả nƣớc ngoài 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch, Agribank hiện có 8 công ty trực thuộc kinh doanh trên các lĩnh vực khác nhau.
Agribank còn chủ động mở rộng và khai thác có hiệu quả các mối quan hệ quốc tế: thu hút và triển khai hàng trăm dự án đầu tƣ nƣớc ngoài cho công nghiệp, nông thôn gần 4 tỷ USD đƣợc các tổ chức tài chính quốc tế đánh giá cao; nhờ đó xúc tiến mối quan hệ với các tập đoàn ngân hàng lớn trên thế giới nhằm thể hiện vị thế và uy tín của mình trên cƣờng quốc tế để đến hôm nay Agribank vinh dự đƣợc đảm nhận chức Chủ tịch Hiệp hội tín dụng nông nghiệp, nông thôn Châu Á Thái Bình Dƣơng ( APRACA) nhiệm kỳ 2008 – 2010 – một hiệp hội có uy tín của 53 tổ chức thành viên đến từ 22 nƣớc trong khu vực. Tháng 10/2007 Agribank cũng vinh dự đƣợc Chƣơng trình Phát triển liên hợp quốc (UNDP) xếp 4 số 1 trong số 200 doanh nghiệp lớn nhất hoạt động tại Việt Nam. Năm 2008, với những thành công và uy tín trong lĩnh vực tài chính ngân hàng của mình, Agribank vinh dự đƣợc nằm trong top 10 của sao vàng Đất Việt. Với những thành tựu và kết quả tích tụ trong 24 năm qua, thế và lực của Agribank đã đƣợc nâng lên một tầm cao mới.
Agribank ngày càng khẳng định vai trò chủ đạo, chủ lực trên thị trƣờng tài chính trong nƣớc đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, tăng cƣờng mối đoàn kết công – nông , củng cố hệ thống chính trị; có ý thức và trách nhiệm cao trong thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Lịch sử hình thành và phát triển NHNo&PTNT Chi nhánh Vũng tàu. Lịch sử hình thành. Chi nhánh NHNo&PTNT thành phố Vũng Tàu đƣợc thành lập vào tháng 11 năm 1994, là chi nhánh cấp II, trực thuộc chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, tọa lạc tại số 103 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phƣờng 3, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Đến tháng 9/2007 NHNo&PTNT Việt Nam đã điều chỉnh Chi nhánh NHNo&PTNT Vũng Tàu thành Chi nhánh cấp I, trực thuộc NHNo&PTNT Việt Nam theo quyết định số 955/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 12/09/2007 và dời trụ sở về số 43A – đƣờng 30/4, phƣờng 9, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Chi nhánh chính thức đi vào hoạt động từ ngày 26/12/2007. Quá trình phát triển. Ngay từ những ngày đầu khi chuyển đổi thành chi nhánh cấp I, Agribank Vũng Tàu đã gặp ít nhiều khó khăn.
Đặc biệt là về cơ sở vật chất và nhân sự còn nhiều thiếu thốn. Tuy nhiên cùng với sự nỗ lực và cố gắng hết mình của ban lãnh đạo cũng nhƣ toàn thể cán bộ công nhân viên, chi nhánh đã dần đi vào quỹ đạo và phát triển nhanh chóng. Với quan điểm kinh doanh gắn liền với phục vụ, trên cơ sở nguồn vốn huy động và tranh thủ các nguồn vốn từ ngân hàng cấp trên cùng với việc hoàn thiện cơ sở vật chất, công nghệ chi nhánh đã tích cực, chủ động tiếp cận với ngày càng nhiều khách hàng nhằm mở rộng tín dụng, đa dạng hóa các đối tƣợng đầu tƣ…Vì vậy chỉ sau hơn một năm thành lập chi nhánh đã đạt đƣợc nhiều kết quả khả quan và củng cố đƣợc thƣơng hiệu trên địa bàn tỉnh. Thực tế hiện nay cũng đã cho thấy các loại hình, sản phẩm dịch vụ ở các ngân hàng hầu hết là giống nhau.
Vì vậy để cạnh tranh nhằm giữ khách hàng cũ và phát triển khách hàng mới, chi nhánh đã không ngừng nâng cao chất lƣợng phục vụ mở 5 rộng thêm địa bàn hoạt động. Hiện nay, mạng lƣới hoạt động của Agribank Vũng Tàu bao gồm một trụ sở và 4 phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh. Đến tháng 4/2008 đã chuyển đổi xong phần mềm quản lý hạch toán kế toán từ hệ thống Foxpro sang giao dịch trên hệ thống Corebanking - hệ thống hiện đại hóa thanh toán và kế toán khách hàng (IPCAS) do tập đoàn Huyndai tài trợ, là cơ sở để phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ. Với hệ thống IPCAS, Agribank Vũng Tàu phát triển đƣợc nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng, trong đó có các sản phẩm dịch vụ hiện đại mà trƣớc đây không thể triển khai đƣợc nhƣ: Internet-Banking, SMS Banking, gửi rút nhiều nơi, tiền gửi đầu tƣ tự động, quản lý tài khoản tập trung, thanh toán hóa đơn,… Ngoài ra, với hệ thống này ngân hàng đã triển khai giao dịch theo mô hình một cửa, thực hiện giao dịch nhanh hơn, chính xác hơn, quản lý thông tin khách hàng đầy đủ, có hệ thống.
Từ đó, giúp ngân hàng có điều kiện chăm sóc khách hàng tốt hơn. Lĩnh vực kinh doanh của NHNo&PTNT - Chi nhánh Vũng Tàu. Hiện nay Chi nhánh đã và đang hoạt động kinh doanh hơn 175 sản phẩm truyền thống của Ngân hàng và các sản phẩm dịch vụ hiện đại của Ngân hàng bán lẻ. Các sản phẩm truyền thống.
Huy động vốn: - Khai thác và nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và tổ chức tín dụng khác trong nƣớc và nƣớc ngoài dƣới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nƣớc và ngoài nƣớc theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp.