Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về phát triển hợp tác xã trong sản xuất chè 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hợp tác xã 1. Khái niệm hợp tác xã Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đắng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã (luật HTX năm 2012).
Kinh tế tập thể là hình thức hợp tác đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn. Phân phối theo lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Thành viên kinh tế tập thể bao gồm các thể nhân và pháp nhân, cả người ít vốn và người nhiều vốn, cùng góp vốn và góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi (Đặng Đình Hải, 2018). Kinh tế tập thể hiện nay gồm 2 hình thức là hợp tác xã, tổ hợp tác.
Trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Nhiều nước trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa hợp tác xã cho phù hợp với điều kiện nước mình. Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình, đặc điểm kinh tế - xã hội của đất nước Luật Hợp tác xã năm 2012 định nghĩa về hợp tác xã như sau: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã (Quốc hội, 2012). Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích Luan van 6 lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật (Đặng Đình Hải, 2018).
Đặc điểm của hợp tác xã Hợp tác và phân công lao động là hai mặt của hoạt động sản xuất, có mối quan hệ biện chứng, tác động tương hỗ lẫn nhau và cùng trực tiếp tác động thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Hợp tác được hiểu là hình thức hiệp lực có ý thức của con người nhằm đạt một mục tiêu nhất định. Hợp tác nảy sinh trong mối quan hệ giữa người với người. Vì vậy, nó có tính phổ biến và đa dạng về các lĩnh vực hợp tác, hình thức hợp tác và trình độ hợp tác.
Theo cơ chế thị trường đòi hỏi các thành phần kinh tế hoạt động theo khung pháp lý và nguyên tắc tổ chức nhất định, có đặc trưng riêng và được pháp luật thừa nhận, được bình đẳng trước pháp luật. Hợp tác xã được tổ chức theo nguyên tắc và có đặc trưng sau: - Thứ nhất, đặc trưng về tổ chức: hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao của các cá nhân, người lao động, doanh nghiệp liên kết lại để tự giúp mình và giúp đỡ lẫn nhau (Đặng Đình Hải, 2018). - Thứ hai, đặc trưng về bản chất kinh tế - xã hội: Mục đích cơ bản nhất của hợp tác xã là phục vụ, hỗ trợ phát triển kinh tế của các thành viên (Đặng Đình Hải, 2018). - Thứ ba, về điều kiện gia nhập hợp tác xã: nguyên tắc tự nguyện và cùng tham gia của thành viên hợp tác xã (Đặng Đình Hải, 2018).
- Thứ tư, chế độ sở hữu của hợp tác xã: bao gồm sở hữu các thành viên và sở hữu tập thể (Đặng Đình Hải, 2018). - Thứ năm, về hoạt động của hợp tác xã: hoạt động của các hợp tác xã đa dạng, tùy thuộc vào nhu cầu của các thành viên tham gia hợp tác xã và khả năng của hợp tác xã (Đặng Đình Hải, 2018). - Thứ sáu, về chế độ quản lý và phân phối: về các thành viên tham gia thì bình đẳng, về mặt kinh tế thì công bằng (Đặng Đình Hải, 2018). Vai trò của hợp tác xã Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại khu vực kinh tế tư nhân.
Khu vực này thường hoạt động có hiệu quả, năng động và tạo ra sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa đáp Luan van 7 ứng những nhu cầu khác nhau của xã hội. Để phát triển, các tác nhân tham gia khu vực này thường phải cạnh tranh lẫn nhau theo nguyên lý cá lớn nuốt cá bé và là nhân tố gây ra sự phát triển kinh tế chênh lệch giữa các khu vực và bộ phận trong xã hội. Cũng trong khu vực kinh tế tư nhân luôn có một lượng lớn dân cư và người lao động cá lẻ, vì nhiều lý do không thể hoặc không đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế có quy mô lớn nên họ buộc phải tự tổ chức sản xuất nhỏ dưới hình thức hộ gia đình, cá thể để tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Trong cạnh tranh kinh tế với các tổ chức và doanh nghiệp lớn, họ luôn bị chèn ép và thua thiệt (Phan Văn Hiếu, 2011).
Chính vì vậy để tồn tại và phát triển được trong điều kiện trên họ buộc phải liên kết lại với nhau trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi để giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, đời sống với nhiều hình thức hoạt động khác nhau, phù họp hơn với nhu cầu của chính họ. Trong một số trường họp các thành viên nhỏ bé tham gia hợp tác xã để bán được sản phẩm của mình ra thị trường nhờ tổ chức hợp tác mà họ lập ra, thay họ thực hiện các hoạt động tiêu thụ sản phẩm của mình (Đặng Đình Hải, 2018). Quá trình liên kết, hợp tác giữa những người sản xuất nhỏ được thực hiện từ thấp đến cao tùy thuộc nhu cầu thực tế của các thành viên. Trong nền sản xuất tự cung tự cấp nhân tố điều tiết quá trình sản xuất là trình độ tự khai thác của từng thành viên, từng gia đình.
Tuy nhiên khi vượt ra khỏi kinh tế tự cung tự cấp bước vào nền sản xuất hàng hóa, người nông dân bắt đầu có nhu cầu về vốn, về kỹ thuật và công nghệ. Mặt khác, quá trình trồng trọt, chăn nuôi của người nông dân lại đòi hỏi sự chăm sóc tỷ mỷ, chu đáo của từng cá nhân và điều đó hạn chế khả năng phát triển về quy mô kinh tế của hộ gia đình (Đặng Đình Hải, 2018). Vì lẽ đó, người nông dân phải tìm đến con đường hợp tác với nhau lại để mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh của mình. Nói cách khác, người nông dân sẽ phải đi tới chỗ liên kết các quá trình sản xuất riêng lẻ và tách rời nhau để trở thành lớn hơn, có khả năng tồn tại cao hơn.
Cụ thể, họ cùng nhau mua sắm tư liệu sản xuất và cùng nhau sản xuất theo một quy trình thống, nhất và từ đó hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã về cung ứng vật tư, về sử dụng máy móc và tương tự họ hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã về tiêu thụ sản phẩm. Bằng cách đó, họ thay đổi phương thức sản xuất, kinh Luan van 8 doanh của mình. Toàn bộ quá trình này dần biến đổi kinh tế hộ và những người sản xuất nhỏ lẻ thành khu vực kinh tế hợp tác ở nông thôn. Nhiều kết quả nghiên cứu và tổng kết của FAO đã cho thấy hợp tác xã có các vai trò giúp người dân nông thôn trên những khía cạnh chủ yếu sau: - Thiết lập các mối liên hệ xã hội với nhau để giúp họ ổn định và nâng cao vị thế trong xã hội.
- Đa dạng hóa sản xuất sang những lĩnh vực mà từng người dân riêng lẻ và nghèo không thể làm được. - Nâng cao giá cả sản phẩm. - Tăng năng suất, hiệu quả của các hoạt động sản xuất giống nhau. - Giảm chi phí các đầu vào của sản xuất, đặc biệt những đầu vào phải mua từ thị trường.
- Tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường và với chi phí thấp. - Có khả năng hơn trong huy động vốn đầu tư vào sản xuất quy mô lớn hơn. - Tạo điều kiện cho nhiều người học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm của nhau. - Giảm bớt rủi ro do biến động của thiên nhiên gây ra.
- Giúp người dân đưa ra tiếng nói chung có uy lực hơn trong đàm phán với những đối tác lớn hơn trên thị trường (Trần Quốc Dũng, 2008). - Tạo ra cơ sở tốt hơn để những người sản xuất nhỏ liên kết có lợi với các tổ chức kinh tế lớn trong quan hệ cung ứng và dịch vụ sản xuất, kinh doanh và củng cố quan hệ giữa các cá nhân có cùng các mối quan tâm giống nhau (Đặng Đình Hải, 2018). - Tạo cơ hội để xây dựng mối quan hệ hợp tác tin cậy lẫn nhau, chia sẻ thông tin, phối hợp hành động, cùng gánh vác các công việc chung và tạo ra lưới an sinh xã hội phi chính thức ở nông thôn (Đặng Đình Hải, 2018). Hợp tác xã nông nghiệp đã thể hiện được vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa và hiệu quả kinh tế, góp phần tích cực thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Nhiều hợp tác xã đã tham gia cung ứng các dịch vụ thiết yếu cho xã viên (Đặng Đình Hải, 2018). Như vậy có thể thấy vai trò của các hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn là Luan van 9 rất to lớn và có sức ảnh hưởng rộng khắp đối với nông dân và những người sản xuất nhỏ trong nông thôn. Khái niệm phát triển hợp tác xã trong sản xuất chè Phát triển là sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của một sự vật, hiện tượng nào đó trong Triết học Mác – Lenin. Quá trình phát triển có thể diễn ra từ từ hoặc diễn ra nhanh chóng (hay còn gọi là nhảy vọt) để sinh ra những sự vật, hiện tượng mới thay thế cho những sự vật, hiện tượng cũ.