CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIẢNG VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1. Các khái niệm, thuật ngữ liên quan 1. Trường cao đẳng Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 năm 2016, Chính phủ thống nhất giao Bộ LĐ-TB&XH là cơ quản quản lý nhà nước về GDNN, Bộ GD&ĐT là cơ quan quản lý nhà nước đối với các trường sư phạm [25]. Vì vậy, khái niệm này không áp dụng đối với các trường CĐ sư phạm.
Trường CĐ là cơ sở GDNN, đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ CĐ và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên. [38] Trường CĐ chịu sự quản lý nhà nước về GDNN của Bộ LĐ-TB&XH, đồng thời chịu sự quản lý theo lãnh thổ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi trường đặt trụ sở chính, phân hiệu. Các loại hình trường cao đẳng ở Việt Nam Theo quy định tại Điều 5, Điều lệ Trường CĐ của Bộ LĐ-TB&XH thì trường CĐ được tổ chức theo hai loại hình là trường CĐ công lập và trường CĐ tư thục. Trường cao đẳng công lập Trường CĐ công lập là cơ sở GDNN thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất.
[38] Cơ quan chủ quản trường CĐ công lập là cơ quan, tổ chức được giao quản lý trường CĐ theo quy định của pháp luật, bao gồm: Trường CĐ trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội; Trường CĐ trực thuộc đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội; Trường CĐ trực 8 thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trường cao đẳng tư thục Trường CĐ tư thục là cơ sở GDNN thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất. Giảng viên ở các trường cao đẳng 1. Giảng viên Hiện nay, ở nước ta có rất nhiều khái niệm khác nhau về GV: Theo Quyết định số 202/TCCP - VC ngày 08/06/1994 của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ quy định về tiêu chuẩn chung của ngạch công chức chuyên ngành giáo dục đã đưa ra khái niệm: “GV là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học và CĐ thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc CĐ” [2].
9 Theo Đại Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam đã đưa ra khái niệm: “GV là người làm công tác giảng dạy ở các trường trên bậc phổ thông hoặc ở các lớp đào tạo, huấn luyện” [41]. Giảng viên ở các trường cao đẳng Theo Điều 70 của Luật Giáo dục 2005 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, GDNN gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là GV” [35]. Đồng thời, Luật Giáo dục sửa đổi bổ sung ngày 29/11/2009 quy định: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, GDNN trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường CĐ nghề gọi là GV" [36].
Điều 53 của Luật GDNN năm 2014 quy định “Nhà giáo trong trung tâm GDNN, trường trung cấp được gọi là giáo viên; nhà giáo trong trường CĐ được gọi là GV” [38]. Từ những quan niệm trên đây, có thể hiểu GV ở các trường CĐ như sau: GV ở các trường CĐ là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục, đào tạo học sinh - sinh viên thành những người lao động có trình độ CĐ, trung cấp hoặc sơ cấp nghề, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. *Tiêu chuẩn của giảng viên GV các trường CĐ phải có các phẩm chất, năng lực theo quy định về chuẩn nhà giáo trong cơ sở hoạt động GDNN, cụ thể như sau: - Có phẩm chất, đạo đức tốt; - Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ; - Có đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; - Có lý lịch rõ ràng. [38] GV các trường CĐ phải có những tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy ở các trường CĐ.
GV các trường CĐ là “Nhà giáo dạy lý thuyết chuyên môn trình độ CĐ phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; nhà giáo dạy thực hành trình độ CĐ phải có chứng chỉ kỹ năng nghề để dạy thực hành trình độ CĐ”. “Nhà giáo không có bằng tốt nghiệp CĐ sư phạm, CĐ sư phạm kỹ thuật hoặc bằng tốt 10 nghiệp đại học sư phạm, đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm”. Chức năng, nhiệm vụ và quyền của giảng viên ở các trường cao đẳng GV các trường CĐ phải thực hiện đầy đủ chức năng của mình. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đều xác định 3 chức năng chính của người GV bao gồm: Chức năng giảng dạy; chức năng NCKH; chức năng cung ứng dịch vụ cho cộng đồng.
Đối với chức năng giảng dạy: Đây là vai trò, chức năng truyền thống, nhưng quan trọng và tiên quyết đối với một GV. Một GV giỏi trước hết phải là một người thầy giỏi. Nghĩa là họ phải hội tụ được 4 nhóm kiến thức/ kỹ năng cơ bản sau: Thứ nhất, kiến thức chuyên ngành: kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành và chuyên môn mà mình giảng dạy. Thứ hai, kiến thức về chương trình đào tạo: tuy mỗi GV đều đi chuyên về một chuyên ngành nhất định, nhưng để đảm bảo tính liên thông, gắn kết giữa các môn học thì GV phải được trang bị (hoặc tự trang bị) các kiến thức về cả chương trình giảng dạy.
Thứ ba, kiến thức và kỹ năng về dạy và học: bao gồm khối kiến thức về phương pháp luận, kỹ thuật dạy và học nói chung và dạy/ học trong từng chuyên ngành cụ thể. Thứ tư, kiến thức về môi trường giáo dục, hệ thống giáo dục, mục tiêu giáo dục, giá trị giáo dục… Đây có thể coi là khối kiến thức cơ bản nhất làm nền tảng cho các hoạt động dạy và học. Đối với chức năng nghiên cứu khoa học: Là GV ngoài chức năng giảng dạy phải có chức năng NCKH. NCKH và giảng dạy là hai chức năng luôn thống nhất với nhau, bổ trợ cho nhau.
Ở chức năng này, GV thực hiện vai trò nhà khoa học với chức năng giải thích và dự báo các vấn đề của tự nhiên, xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải. Đối với chức năng cung ứng dịch vụ cho cộng đồng: Ở vai trò này, GV cung ứng các dịch vụ của mình cho nhà trường, cho học sinh - sinh viên, cho các tổ chức xã hội - đoàn thể, cho cộng đồng và cho xã hội nói chung. Trong xu thế hội nhập, hợp tác quốc tế hiện nay, GV các nhà trường CĐ có thể tham gia các loại hình dịch 11 vụ giáo dục theo bốn phương thức cung ứng dịch vụ của WTO mà Việt Nam đã tham gia cam kết. Điều 55 của Luật GDNN đã thể chế hóa những chức năng của GV thành các nhiệm vụ và quyền của GV.
Theo đó, GV các trường CĐ có nhiệm vụ và các quyền sau: “- Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ, có chất lượng chương trình đào tạo. - Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy. - Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ, quy chế tổ chức, hoạt động của cơ sở hoạt động GDNN. - Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học.
- Tham gia quản lý và giám sát cơ sở hoạt động GDNN; tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác xã hội khác. - Được sử dụng các tài liệu, phương tiện, đồ dùng dạy học, thiết bị và cơ sở vật chất của cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp để thực hiện nhiệm vụ được giao. - Được ký hợp đồng thỉnh giảng với các cơ sở GDNN khác theo quy định của pháp luật. - Được tham gia đóng góp ý kiến về chủ trương, kế hoạch của cơ sở hoạt động GDNN về chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy và các vấn đề có liên quan đến quyền lợi của nhà giáo.
- Nhà giáo phải dành thời gian và được cơ sở hoạt động GDNN bố trí thời gian thực tập tại doanh nghiệp để cập nhật, nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới theo quy định. - Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật”. [38] Đồng thời theo Điều 35 về “Nhiệm vụ và quyền hạn của GV” trong Điều lệ 12 trường CĐ ban hành năm 2016 cũng chỉ rõ: “GV trường CĐ thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 55 của Luật GDNN và các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: - Chấp hành các quy chế, nội quy, quy định của nhà trường. - Thực hiện quy định về chế độ làm việc của GV do Bộ LĐ-TB&XH ban hành.
- Được bố trí giảng dạy theo chuyên ngành, nghề được đào tạo; được lựa chọn phương pháp, phương tiện giảng dạy nhằm phát huy năng lực cá nhân, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo; được bảo đảm trang thiết bị, phương tiện, điều kiện làm việc để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ và quyền hạn được giao. - Được hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp và các chính sách khác theo quy định của pháp luật; GV trong các trường CĐ công lập làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.