chương 1 thì cho rằng: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, diểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Từ những luận điểm trên có thể thấy được điểm chung là các quan niệm đều đề cập đến các yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người tạo ra có sức hấp dẫn với du khách. Vậy có thể đưa ra định nghĩa về tài nguyên du lịch như sau: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn với du khách; đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững”. Phân loại tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dang.
Vì thế có nhiều cách phân loại tài nguyên du lịch tùy thuộc vào việc sử dụng các tiêu chí khác nhau. Năm 1997, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã phân tài nguyên du lịch thành 3 loại với 9 nhóm tài nguyên, bao gồm: • Loại cung cấp tiềm tàng, có 3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vận động vui chơi. • Loại cung cấp hiện tại, có 3 nhóm: giao thông, thiết bị, hình tượng tổng thể. • Loại tài nguyên kỹ thuật, có 3 nhóm: khả năng hoạt động, cách thức, tiềm lực khu vực.
Theo Ngô Tất Hổ (2000), tài nguyên du lịch được chia thành 3 hệ thống (gồm: thiên nhiên, nhân văn, dịch vụ); 10 loại (gồm: cảnh quan địa văn, cảnh quan Trang 13 thủy văn, khí hậu vi sinh vật, cảnh quan tự nhiên khác, di tích lịch sử, điểm nhân văn hiện đại, điểm hấp dẫn nhân văn trừu tượng, hấp dẫn nhân văn khác, dịch vụ du lịch, các dịch vụ khác); 95 kiểu và 3 bậc. Ông cho rằng 3 bậc này phản ánh qui mô của tài nguyên dựa trên mức độ quan trọng và độ lớn của tài nguyên. Raynouard thì phân tài nguyên du lịch thành các loại như sau: • Tài nguyên thiên nhiên như khí hậu, địa hình, động vật và thực vật, … • Tài nguyên văn hóa – xã hội như các cuộc trình diễn nghệ thuật, liên hoan âm nhạc, hòa nhạc quốc tế, triễn lãm, hội thảo văn học, trình diễn thể thao, khoa học và công nghệ, các thành phố hiện đại, các điểm khảo cổ và lịch sử. • Tài nguyên thuộc nhóm kinh tế như các nhà máy, các trung tâm kỹ thuật; kể cả những điều kiện kinh tế thuận lợi cho việc mua sắm, … Ở nước ta, từ cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, có một số tác giả (Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương) đã phân thành 2 nhóm: • Tài nguyên du lịch tự nhiên: bao gồm địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật.
• Tài nguyên du lịch nhân văn: gồm có các loại di tích, lễ hội, làng nghề, văn hóa – văn nghệ dân gian, ẩm thực, … Trong Luật du lịch Việt Nam (năm 2005) thì tài nguyên du lịch cũng được chia làm 2 nhóm cơ bản theo sơ đồ sau: Trang 14 Sơ đồ 1. PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH TÀI NGUYÊN DU LỊCH Tự nhiên Nhân văn Địa Khí Nguồn Sinh Di Lễ Dân Nhân hình hậu nước vật tích hội tộc văn văn học khác hóa, lịch sử DI SẢN TỰ NHIÊN DI SẢN VĂN HÓA DI SẢN HỖN HỢP 1. Các loại hình du lịch Các hoạt động du lịch rất phong phú và đa dạng. Tùy theo yêu cầu và mục đích khác nhau mà hoạt động đó được phân loại thành các loại hình du lịch khác nhau.
Xét ở góc độ tổng quát, có thể phân thành 3 loại hình du lịch, gồm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch MICE. Du lịch sinh thái (Ecotourism) Theo Luật du lịch Việt Nam (năm 2005): “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. Du lịch sinh thái còn có thể được hiểu bằng nhiều tên gọi khác nhau như: • Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism). • Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature – Based Tourism).
• Du lịch môi trường (Environmental Tourism). • Du lịch đặc thù (Particular Tourism). Trang 15 • Du lịch xanh (Green Tourism). • Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism).
• Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism). • Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism). • Du lịch nhạy cảm (Sensitized Tourism). • Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism).
• Du lịch bền vững (Sustainable Tourism). Du lịch sinh thái là hoạt động nhằm thỏa mãn du khách về việc tìm hiểu các hệ sinh thái tự nhiên và văn hóa bản địa. Địa điểm tổ chức loại hình du lịch sinh thái thường là những khu vực có hệ sinh thái còn tương đối hoang sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa bản địa đang được bảo tồn gần như nguyên vẹn như các vườn quốc gia, các khu dự trữ sinh quyển, các khu bảo tồn thiên nhiên, các làng, bản văn hóa, … Loại hình này hiện đang thu hút sự chú ý của hầu hết các du khách yêu chuộng thiên nhiên và văn hóa trên toàn thế giới. Du lịch văn hóa Theo Luật du lịch Việt Nam (năm 2005): “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng động nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”.
Du lịch văn hóa tức là nội dung văn hóa do du lịch – hiện tượng xã hội độc đáo này thể hiện ra, là văn hóa do du khách và người làm công tác du lịch tích lũy và sáng tạo ra trong hoạt động du lịch. Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho du khách về lịch sử, kiến trúc, kinh tế - xã hội, lối sống và phong tục tập quán ở nơi họ đến thăm. Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn hóa – lịch sử, bảo tàng, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật, thể thao, … 1. Du lịch MICE MICE là loại hình du lịch kết hợp với việc thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó, như tham dự các hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác.
Trang 16 MICE - viết tắt của Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm). Tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Conference Event. Thành phần chính của loại hình MICE thường là những người đại diện cho các giai cấp, Đảng phái, quốc gia, một hãng kinh doanh hay một công ty. Các đoàn khách MICE thường rất đông (vài trăm khách) và đặc biệt mức chi tiêu cao hơn khách đi tour bình thường (do Ban tổ chức các hội nghị quốc tế bao giờ cũng đặt phòng cho khách ở khách sạn 4 - 5 sao, dịch vụ cao, các tour sau hội nghị phải thiết kế chuyên biệt theo yêu cầu, …).
MICE hiện là loại hình du lịch mang lại nguồn thu rất lớn cho ngành du lịch ở các nước. Địa điểm tổ chức loại hình du lịch này thường là ở các trung tâm thành phố lớn với các yêu cầu đặc thù về cơ sở hạ tầng, hệ thống các dịch vụ đi kèm cũng như các dịch vụ khác như: ăn uống, vui chơi, mua sắm,. kết hợp với xây dựng các tour du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng, tổ chức party ngoài trời, xây dựng chương trình team building, hội chợ thương mại, … cho du khách (Theo Trần Văn Thông). Sản phẩm du lịch 1.
Định nghĩa Có rất nhiều định nghĩa liên quan đến sản phẩm du lịch. “Sản phẩm du lịch là một tổng thể phức tạp bao gồm nhiều thành phần không đồng nhất cấu tạo thành, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch”. Sản phẩm du lịch bao gồm cả sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình. Theo Tiến sĩ Thu Trang Công Thị Nghĩa: “Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm tiêu dùng đáp ứng cho nhu cầu của du khách, nó bao gồm di chuyển, ăn ở và giải trí”.
Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì sản phẩm du lịch bao gồm 2 mặt chính: • Xuất phát từ đích tới du lịch, sản phẩm du lịch là chỉ toàn bộ dịch vụ của nhà kinh doanh du lịch dựa vào vật thu hút du lịch và khởi sự du lịch, cung cấp cho du khách để thỏa mãn nhu cầu hoạt động du lịch. Trang 17 • Xuất phát từ góc độ người du lịch là chỉ quá trình du lịch một lần do du khách bỏ thời gian, chi phí và sức lực nhất định để đổi được. Tại điều 4, chương 1, Luật du lịch Việt Nam (2005): “Sản phẩm du lịch là một tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”. Một định nghĩa khác: “Sản phẩm du lịch là sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác hợp lí tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạt động du lịch”.
Ta có: Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Hàng hóa và dịch vụ du lịch. Tóm lại có thể hiểu chung, sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cho du khách, nó được tạo nên bởi các yếu tố tự nhiên và nhân văn trên cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động du lịch tại một vùng, một cơ sở nào đó.