CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Trong chương này, chúng tôi sẽ tìm hiểu cấp như những nghiên cứu thực tiễn về cơ sở lý luận chính của luận văn này, đó là du lịch cộng đồng, địa điểm nghiên cứu và người Mông. Trước tiên, tác giả sẽ đề cập đến khái quát, mục đích và minh họa của cơ sở lý luận chính là du lịch cộng đồng. Khái quát về Du lịch cộng đồng 1. Khái niệm Du lịch cộng đồng Du lịch cộng đồng (community based tourism) có 2 loại, “Du lịch dựa vào cộng đồng” và “Du lịch cộng đồng”.
Du lịch dựa vào cộng đồng là bước đầu phát triển của Du lịch cộng đồng. Du lịch cộng đồng được định nghĩa là “phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội. Du lịch cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường của họ” (REST: Responsible Ecological Social Tours, Thailand, 1997). Tức là một loại du lịch cộng đồng tự phát làm chủ thể và quản lý hoạt động du lịch, sử dụng phương pháp lưu lợi nhuận từ hoạt động du lịch lại trong khu vực đó.
Lịch sử hình thành của du lịch cộng đồng vẫn chưa lâu lắm, mới bắt đầu phát triển tại khu vực Châu Phi, Châu Đại Dương và Mỹ Latin từ những năm 80-90 của thế kỷ trước, thông qua các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ. Hiện nay, du lịch cộng đồng được chính phủ, tổ chức kinh tế- xã hội trên thế giới quan tâm đến và đang nổi bật lên trong các định hướng phát triển du lịch. Du lịch cộng đồng cũng phát triển mạnh mẽ tại các nước Châu Á, Inđonêxia, Philippines, Thái Lan, Ấn Độ, Nê Pan và Đài Loan. Thêm vào đó, liên quan tới lý luận của du lịch cộng đồng, 17 Inđônêxia, Philippines và Thái Lan đã tổ chức hội thảo xây dựng mẫu đào tạo và đào tạo kỹ năng để phát triển một cách đúng đắn.
Mục đích của Du lịch cộng đồng Khái niệm Du lịch cộng đồng được sử dụng với mục đích là bảo tồn, bảo vệ môi trường thiên nhiên, văn hóa, hệ sinh thái đa dạng và bản sắc địa phương, cũng như là một phương pháp để nâng cao nguồn thu nhập cá nhân và là các tiêu chuẩn về giáo dục, y tế. Và cơ sở hạ tầng cũng nâng cao theo từ việc tái đầu tư lợi nhuận cho cộng đồng. Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động này, người dân trong cộng đồng có thể hiểu biết về những vấn đề của khu vực và sẽ có thể tự tìm ra cách giải quyết khi có vấn đề phát sinh. Ngoài ra, tất cả dân cư trong cộng đồng đều phải tham gia vào hoạt động góp phần phát triển nền du lịch của địa phương như là sản xuất và cung cấp các hàng lưu niệm (không có hại cho môi trường) để tạo cơ hội giao lưu văn hóa, trao đổi kiến thức giữa du khách và dân cư.
Theo nguyên tắc của Du lịch cộng đồng, cộng đồng có quyền tham gia hoạt động tổ chức, lập kế hoạch, thực hiện, đầu tư và quản lý phát triển du lịch, cũng như phải phát triển theo khả năng của cộng đồng. Nói cụ thể hơn là khả năng nhận thức các vai trò và vị trí của cộng đồng về việc sử dụng tài nguyên du lịch, tiềm năng du lịch cần thiết để cộng đồng phát triển; nâng cao nhận thức của cộng đồng và người dân về những ảnh hưởng đến môi trường thiên nhiên do hoạt động du lịch và du khách gây nên. Ngoài ra, người dân phải bảo tồn vốn văn hóa của mình và được hưởng lợi từ đó. Du lịch cộng đồng giúp tạo ra việc làm cho người dân, tạo ra các cơ hội giao lưu văn hóa và mang đến lợi nhuận.
Người dân được hưởng lợi trực tiếp từ việc cung cấp dịch vụ du lịch cho du khách. Và người dân cũng được hưởng lợi 18 một cách gián tiếp từ việc, cơ sở hạ tầng cũng như các tiêu chuẩn về giáo dục, y tế tại địa phương sẽ được nâng cao hơn do tái đầu tư lợi nhuận từ hoạt động du lịch cộng đồng. Ngoài ra, còn nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa địa phương. Kinh nghiệm phát triển Du lịch cộng đồng trên thế giới và Việt Nam Trong phần này, tác giả sẽ xin được đề cập đến ba minh họa du lịch cộng đồng đã thành công tại Rotorua của Niu Di Lân, Cát Bà Thành Phố Hải Phòng của Việt Nam và Langde Miao Village (郎徳上寨), tỉnh Quý Châu của Trung Quốc.
Sau đó, tác giả sẽ giới thiệu những nguyên nhân thành công Du lịch cộng đồng dựa trên nghiên cứu của Japan Travel Breau Foundation (2010). Kinh nghiệm du lịch vùng thổ dân Maori tại Rotorua, Niu Di Lân Từ xưa kia Rotorua được biết đến là một vùng thổ dân cư trú và là khu vực của suối nước nóng. Tuy nhiên, do đất đai của Rotorua khô cằn, nên người Châu Âu đã không chọn là nơi định cư. Vì thế du lịch tại Rotorua đã được “whanau” (gia đình mở rộng) và “hapu” (thổ dân thứ hai) phát triển từ việc hướng dẫn, lưu trú, lữ hành, buôn bán hàng lưu niệm, giới thiệu nền văn hóa thổ dân Maori.
Hiện nay, Rotorua đã trở thành là một điểm đến du lịch được ưa thích nhất trong khu du lịch vùng thổ dân Maori tại Niu Di Lân, cũng như đã thu hút được khoảng 450.000 lượt du khách một năm, chiếm 77 % so với tổng số lượt du khách đến vùng du lịch thổ dân Maori tại Niu Di Lân. Rotorua phát triển dịch vụ du lịch trên nền tảng là nguồn suối nước nóng được thiên nhiên ban tặng và nền văn hóa truyền thống của người Maori. Tại đây, ta cùng xem xét một số yếu tố tạo nên thành công cho ngành du lịch 19 tại Rotorua, đó là tính tự lập, việc tiếp thị và triết lý đạo đức của họ. Trước tiên, vùng người Maori có tổ chức phi lợi nhuận “Charitable trust” với mục đích hỗ trợ hoạt động có ích cho cộng đồng, đóng vai trò quan trọng trong việc nắm bắt thay đổi nhu cầu thị trường và khiến người dân tự lập trong việc kinh doanh du lịch.
Người dân Rotorua không dựa vào nhà nước mà bản thân người dân có ý thức và tham gia vào việc phát triển cộng đồng một cách tự lập. Điều này có thể hiểu là do Charitable trust được tổ chức vào thời khủng hoảng năm 1980. Vì thế, người dân cảm thấy nguy cơ sa vào cảnh khủng hoảng và nảy sinh ý thức phải tự lập. Ngoài ra, họ còn quan tâm tới xu thế của khách quốc tế, ví dụ nhân viên hỏi du khách là người nước nào để cho việc tiếp thị được tốt hơn.
Họ thực hiện hoạt động du lịch không chỉ với tình yêu mãnh liệt về dân tộc mình mà còn với cách suy nghĩ có lô-gic. Cuối cùng là triết lý đạo đức độc đáo của người Maori. Người sáng lập làng Tamaki Maori đã từng nói rằng “Du lịch là xe cộ”, tức là du lịch được coi như là một công cụ để thực hiện một mục đích khác (VD: tự lập của cộng đồng, bảo tồn môi trường và bản sắc dân tộc Maori. Vì thế khi thực hiện hoạt động du lịch, người Maori luôn có ý thức về “mục đích kinh doanh du lịch”.
Họ giữ cân bằng giữa phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa dựa trên triết lý “Mana”. “Mana” được hiểu như một sức lực của thiên nhiên luôn tiềm tàng trong con người. Khi đưa văn hóa dân tộc mình thành một sản phẩm du lịch, họ quyết định giới hạn với một tiêu chuẩn quan trọng là có “Mana” hay không. Đây là tiêu chuẩn chủ quan nhưng điều đáng nói là “Mana” cũng gần giống như là một tiêu chuẩn của điều kiêng kỵ.
Chính vì thế, chỉ những người biểu diễn tôn trọng văn hóa và tâm hồn của người Maori mới thực hiện được hoạt động du lịch tại Rotorua. 20 Tóm lại, người dân có ý thức và tư duy tự lập trong cuộc sống của mình và cộng đồng, giữ cân bằng giữa tình yêu dân tộc mãnh liệt và suy nghĩ lô-gic trong việc phát triển và bảo tồn văn hóa người Maori. Từ kinh nghiệm của Rotorua có thể thấy rằng điều có tài nguyên du lịch phong phú hay không là một yếu tố quan trọng để thực hiện du lịch cộng đồng, tuy nhiên cách sử dụng tài nguyên du lịch và ý thức của những người sử dụng tài nguyên du lịch là yếu tố quan trọng hơn nữa. Kinh nghiệm tại Cát Bà, Hải Phòng Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, cũng là một khu dự trữ sinh quyển với 17.041 ha phần đảo và 9.100 ha phần biển.
Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà đang nằm trong sự quản lý của UBND Hải Phòng nhằm mục đích hỗ trợ bảo tồn, quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng và phát triển kinh tế- xã hội. Chức năng của chính quyền địa phương là bảo tồn giá trị thiên nhiên và nhân văn, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và con người, hỗ trợ nghiên cứu và đào tạo. Ban quản lý đã xây dựng khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà thành một mô hình điển hình về phát triển bền vững. Theo quan niệm của họ, cần kết hợp hài hòa cách suy nghĩ là “phát triển để bảo tồn” và “bảo tồn để phát triển”.
Ngoài ra, cộng đồng địa phương, bao gồm các doanh nghiệp, các nhà hàng và khách sạn, người dân sản xuất nông nghiệp cung cấp sản phẩm và các ban ngành của chính quyền địa phương, chủ động tham gia hoạt động du lịch trong khu vực này. Vì thế, có thể thấy rằng khi kết hợp sự tham gia của cộng đồng, hỗ trợ và chỉ đạo của chính quyền địa phương với sự cân bằng giữa ý thức bảo tồn và phát triển, du lịch sinh thái, mới thực hiện được. Nâng cao nhận thức của người dân và các tổ chức liên quan đến du lịch trong ngành quảng cáo và thu hút du khách. 21 Như đã nêu trên, du lịch cộng đồng có lợi ích lớn về không chỉ lợi nhuận kinh tế mà còn lợi nhuận xã hội, văn hóa, môi trường thien nhiên.
Do đó, du lịch cộng đồng được quan tâm nhiều trên thế giới. Trong phần sau, tác giả xin được giới thiệu minh họa về những khu vực đang thực hiện du lịch cộng đồng trong đoạn sau.