Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TTCM Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Trên thế giới, các nước như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Úc,. luôn xem đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục nói riêng, sự nghiệp giáo dục nói chung. Trong nguồn nhân luc giáo duc, họ đặc biêt nhấn mạnh đến CBQL giáo dục - người đứng đầu các nhà trường.
Tác gia Henry Mintzbeg đã chỉ ra vai trò của người CBQL giáo dục trong sự kết hợp giữa quyền hạn với trách nhiệm. Theo tác giả, “họ vừa là người lãnh đạo; người liên lạc; người đại diện của tổ chức; người đàm phán; nguời tiếp nhận thông tin; người phổ biến thông tin; người phát ngôn; nhà doanh nghiệp; người phân phối nguồn lực; người khắc phục khó khǎn”[70]. Tác giả JaxaPob để cập đến vai trò của người CBQL giáo dục. Theo tác giả, trong các nhà trường, người CBQL giáo dục chính là “chất keo” dính kết các thành viên lại với nhau để hướng tới một mục đích chung là làm cho nhà trường phát triển[35].
Tác gia Jaya D [36] nhấn mạnh vai trò lãnh đạo chuyên môn của nguời CBQL trường học. Các tác gia khác như K. Everard,Geoffrey Morris,Ian Wilson [45] lại quan tâm đến vai trò quản trị trường học của người CBQL giáo dục. Vị trí,vai trò của CBQL trường học cũng được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp xây dựng và phát triển giáo dục nói chung, đội ngũ CBQL trường học nói riêng. Trong các bài viết, bài nói chuyện của Người về giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhấn mạnh vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục, của GV và CBQL giáo dục. Về vị trí, vai trò của 7 GV và CBQL giáo dục, Người đã khẳng định, GV và CBQL giáo dục tốt là những “người vẻ vang nhất”, là “những anh hùng vô danh”[52;tr. Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng [2] nhấn mạnh vị trị, vai trò của GV và CBQL giáo dục.
Luật Giáo dục [8], Điều lệ trường THCS [8] cũng đề cập dến vị trí, vai trò của GV và CBQL giáo dục. Tác giả Trịnh Hồng Hà [28] cho rằng, CBQL trường học có các vai trò sau đây: Người quản lý trường học với tư cách là một tổ chức hành chính, sự nghiệp và nhân sự, tác nghiệp hoặc chuyên môn; người lãnh đạo tập thể thực hiện chương trình giáo dục qua con người và tổ chức người thuộc nhà trường; người phối hợp, tham gia các hoạt động giáo dục tại cộng đồng, địa phương; nhà giáo dục và người GV như các nhà giáo khác; nhà tư vấn và hướng dẫn chuyên môn cho GV, tư vấn cho phụ huynh và học sinh; người học tích cực, thường xuyên, đi đầu và cổ vũ hiệu quả trong phát triển nghề nghiệp và phát triển cá nhân; người tổ chức và trực tiếp nghiên cứu, ứng dụng triển khai các hoạt động khoa học - công nghệ trong nhà truòng. Theo tác giả Bùi Minh Hiền, cùng với đội ngũ GV, đội ngũ CBQL “có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục”, “sứ mạng của họ có ý nghĩa cao cả đặc biệt”, “lao động của họ trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy sự phát triển đất nước, cộng đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững”. Ở mọi thời đại, con người luôn luôn là mục tiêu, động lực của sự phát triển.
Vì thế, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là chiến lược quan trọng của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức. Trong phát triển nguồn nhân lực. Đây là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả ở các góc độ tiếp cận khác nhau.Uliich [50] thì phát triển nguồn nhân lực quản lý có ý nghĩa then chốt nhất. Nhiều công trình trên thế giới đã đi sâu vào nghiên cứu định hướng phát triển nguồn nhân lực quản lý nói chung, nguồn nhân lực quan lý nhà trường nói riêng.
Tác gia Mintzberg cho rằng, trong phát triển nguồn nhân lực quản lý, có 8 nhiều cách tiếp cận, trước hết là tiếp cận theo quá trình [51]. Tiếp cận theo quá trình là tiếp cận hoạt động quản lý, đi qua các thành tố cơ bản với những chức năng xác định được gọi là các chức năng quản lý. Cách tiếp cận này đòi hỏi nhà quản lý phải có năng lực thực hiện các chức năng: xây dựng kế hoạch hoạt động, tổ chức, chỉ đạo hoạt động, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện hoạt động. Cùng với tiếp cận phát triển nguồn nhân lực quản lý theo quá trình, trên thế giới đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực quản lý theo tiếp cận năng lực.
Đây là cách tiếp cận, trong đó, trước khi bắt tay vào phát triển một nguồn nhân lực quản lý nào đó, người ta phải xác định trước những năng lực (khung năng lực) mà nguồn nhân lực đó cần phải có để đáp ứng yêu cầu của từng vị trí việc làm. Từ các quan điểm quản lý chất lượng, một số tác giả khác đã đưa ra năng lực nhà quản lý gồm 4 nhóm: nền tảng cơ bản; lên kế hoạch và phân tích; thiết kế và phát triển; kỹ năng quản lý. Ở từng nhóm năng lực đều có các năng lực cụ thể. Đây có thể xem là khung năng lực của nhà quản lý.
Maxwell đã dành sự quan tâm lớn về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý theo tiếp cận năng lực trong các công trình nghiên cứu của mình. Trong công trình nghiên cứu Để trở thành nhà lãnh đạo quần chúng xuất sắc [37]; Tinh hoa lãnh đạo [38], tác giả đã tập trung mô tả những năng lực mà nhà quản lý xuất sắc cần phải có. Từ đó, theo tác giả phát triển đội ngũ CBQL thực chất là phát triển hệ thống năng lực này. Tác gia Mintzberg [51] đưa ra những ý tưởng quan trọng trong việc hình thành năng lực lãnh đạo, quản lý trước bối cảnh mới với nhiều cơ hội và thách thức.
Theo các tác giả Đặng Xuân Hải [26], Đặng Thành Hung, Trịnh Hồng Hà [28],Tràn Kiêm [43],Nguyễn Thi Tính[62], phát triển đội ngũ CBQL trưòng học cần phải theo hướng chuẩn hóa. Điều đó có nghĩa là, khi phát triển đội ngũ CBQL trường học cần phải dựa trên chuẩn CBQL trường học, với những yêu cầu cụ thể về phẩm chất và năng lực. Trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông, 9 tác giá Nguyễn Công Giáp [25] nhấn mạnh phát phát triền năng lực công nghệ thông tin và truyền thông cho đội ngũ CBQL trường học. Tác giả Bùi Minh Hiền [30], Thái Duy Tuyên [64] cho rằng, trong xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục, cần phải quy tụ vào ba vần đề chính: số lượng, chất lượng, cơ cấu.F[39] cho rằng, một trong những giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường học là phải xây dựng chương trình bồi dưỡng CBQL.
Chương trình bồi dưỡng này phải phản ánh được một cách đầy đủ những yêu cầu mà người CBQL trường học cần phải đáp ứng về cả năng lực và phầm chất. Tác giả nhấn mạnh những năng lực hàng đầu cần phải trang bị cho người CBQL trường học trong bối cảnh hiện nay, đó là năng lực quản lý sự thay đổi; năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường; năng lực quản trị nhà trường; năng lực đổi mới và sáng tạo; phong cách quản lý hiện đại. Cùng với xây dựng chương trình bồi dưỡng CBQL, việc xây dựng và phát triển các chuẩn đào tạo, đánh giá CBQL cũng được nghiên cứu trong một số công trình [69], [71], [72],[73]. Đây dược xem là những giải pháp dễ phát triển đội ngũ CBQL trường học; đàm bảo cho nhà trường thực thi tốt sứ mạng đào tạo nhân lực, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm báo an ninh quốc phòng của các quốc gia.
Có ý kiến cho rằng, trong phát triển đội ngũ CBQL trường học cần có các giải pháp tạo môi trường và điều kiện để đội ngũ này tự phát triển; tự phát triển chính là sự phát triển lâu dài và vững chắc nhất. Như vậy, trên thể giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển nhân lực quản lý nói chung, CBQL trường học nói riêng. Các nghiên cứu này đã để cập đến vấn đề phát triển đội ngũ CBQL trường học ở những góc độ khác nhau: từ vị trí, vai trò của CBQL trường học; yêu cầu đối với người CBQL truờng học đến tiếp cận năng lực trong phát triền đội ngũ CBQL trường học; giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý CBQL truờng học. Ở trong nước, cũng có nhiều tác giả đã để cập đến các giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường học, như Trương Thị Bích [4], Nguyễn Văn Đệ[22],Phạm 10 Hồng Quang [57], Vũ Lệ Hoa, Lê Trọng Tuấn [32].
Thông qua những công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên, có thể tổng hợp thành các giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường học sau đây: (1) Các cấp QLGD đều phải xây dựng đuợc quy hoạch CBQL giáo dục cho đơn vị và gắn liền với quy hoạch này là các công việc cần triển khai để đào tạo; (2) bồi dưrõng CBQL giáo dục theo quy hoạch ;(3) xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đối với CBQL giáo dục các cấp; (4) có chính sách hỗ trợ tinh thần, vật chất thỏa đáng đối với giáo dục; (5) tổ chức lại hệ thống trường, khoađào tạo, bồi dưỡng CBQL giáo dục. Các nghiên cứu trong nước Ở trong nước, có các công trình nghiên cứu về TTCM trường phổ thông sau đây: - Những kĩ năng lãnh đạo, quản lỷ cần thiết của tổ trương chuyên môn [7| của tác giá Đỗ Văn Đoạt. - Tổ trưống chuyên môn phát triển chương trình nhà trường trong bối cánh đổi mới giáo dục [16] của Vũ Thị Mai Hường. - Nǎng lực của tổ trưởng chuyên môn trong nhà trường phổ thông [16] của Trần Kiểm.
- Kĩ năng động viên giáo viên của tổ trưởng chuyên môn trường phổ thông [17] của Nguyễn Thị Ngọc Liên. Các nghiên cứu nói trên đã làm rǒ vị trí, vai trò; yêu cầu về năng lực và phẩm chất mà người TTCM trường phổ thông cần phái đáp ứng. Đổi mới quản lý giáo dục cần nhất là đổi mới mục tiêu giáo dục. Quyết định 711/QĐ của thủ tướng chính phủ ngày 13 tháng 06 năm 2012 về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”[10] đã xác định là khâu đột phá để thực hiện mục tiêu giáo dục trong giai đoạn mới.