Chương 1: Cơ sở lý luận của phát triển đội ngũ giáo viên THCS dựa trên vị trí việc làm. Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá dựa trên vị trí việc làm. Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá dựa trên vị trí việc làm. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ DỰA TRÊN VỊ TRÍ VIỆC LÀM 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Trong những thập niên gần đây, cùng với quy mô dân số tăng và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ theo xu thế toàn cầu hóa, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đặt giáo dục lên vị trí hàng đầu, với định hướng hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức. Điều đó làm quy mô giáo dục tăng đột biến. Vì vậy, đội ngũ GV cũng tăng nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới và ở từng quốc gia.
Trên thế giới, các nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore… luôn xem GV là điều kiện tiên quyết của sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục. Vì vậy, mà khi quyết định đưa giáo dục Hoa Kỳ lên hàng đầu thế giới trong thế kỷ XXI, chính phủ Hoa Kỳ đã lấy giải pháp GV làm then chốt. Các nhà giáo dục học Xô Viết cho rằng: “Kết quả hoạt động của toàn bộ nhà trường phụ thuộc vào rất nhiều công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ GV” [33].A Xukhomlinxki đã tổng kết 26 năm kinh nghiệm thực tiễn làm công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ của một hiệu trưởng, cùng với nhiều tác giả khác ông đã nhấn mạnh đến sự phân công hợp lý, sự phối hợp chặt chẽ, sự thống nhất quản lý giữa hiệu trưởng và phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu đã đề ra. Tác giả đã khẳng định vai trò lãnh đạo và quản lý toàn diện của hiệu trưởng.A Xukhomlinxki cũng như các tác giả khác đều chú trọng đến việc phân công hợp lý và các biện pháp quản lý của hiệu trưởng [35].
Các nhà nghiên cứu Xô Viết cũng đã thống nhất cho rằng: “Một trong những giải pháp hữu hiệu nhất để xây dựng và phát triển đội ngũ GV là phải 8 bồi dưỡng đội ngũ GV, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng những biện pháp khác nhau”. Một số giải pháp để phát triển mà các tác giả quan tâm là tổ chức hội thảo chuyên môn, qua đó GV có điều kiện trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của mình. Tuy nhiên để hoạt động này đạt hiệu quả cao, nội dung các cuộc hội thảo chuyên môn cần được chuẩn bị kỹ, phù hợp và có tác dụng thiết thực đến dạy học. Tổ chức hội thảo phải sinh động, thu hút được nhiều GV tham gia thảo luận, trao đổi.
Vấn đề đưa ra hội thảo phải mang tính thực tiễn cao, phải là vấn đề được nhiều GV quan tâm và có tác dụng thiết thực với việc dạy học.A Xukhomlinxki và Xvecxlerơ còn nhấn mạnh đến biện pháp dự giờ, phân tích bài giảng, sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn. Xvecxlerơ cho rằng việc dự giờ và phân tích bài giảng là đòn bẩy quan trọng nhất trong công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ của GV. Việc phân tích bài giảng mục đích là phân tích cho GV thấy và khắc phục các thiếu sót, đồng thời phát huy mặt mạnh nhằm nâng cao chất lượng bài giảng. Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, các nhà khoa học, các nhà sư phạm cũng luôn quan tâm nghiên cứu tìm ra các giải pháp quản lý phát triển đội ngũ GV một cách hữu hiệu nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục.
Ngay từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, các giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Minh Đức, Hà Thế Ngữ, Hà Sĩ Hồ. đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý trường học trong hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam. Vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, xuất hiện những nhà nghiên cứu kết hợp thực tiễn về giáo dục ở Việt Nam với những yếu tố hiện đại như Đặng Quốc Bảo với “Về phạm trù nhà trường và nhiệm vụ phát triển nhà trường 9 trong bối cảnh hiện nay”, “Quản lý giáo dục - Nhiệm vụ và phương hướng” - Nhà xuất bản Đại học Hà Nội năm 1996, “Một số khái niệm về quản lý giáo dục”, Hà Nội 1997; Nguyễn Văn Lê với “Khoa học quản lý”, 1994; Trần Kiểm với “Khoa học quản lý giáo dục, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Giáo dục, 2004; “Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục”, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006; “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục”, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2007; 1994; Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo với “Quản lý giáo dục”, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006. Tại các trường đại học và các viện nghiên cứu đã có nhiều tài liệu viết về đề tài phát triển đội ngũ GV.
Trường Đại học Vinh, đã có các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành,… Tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, năm 2006 tác giả Nguyễn Lộc đã thực hiện đề tài “Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam”, năm 2004 tác giả Nguyễn Ngọc Hợi đã nghiên cứu đề tài cấp Bộ “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo”; Nguyễn Xuân Mai với “Đào tạo GV dạy nghề đáp ứng yêu cầu xã hội” và “Đổi mới quản lý giáo dục đại học một số vấn đề cần được quan tâm”, Tạp chí Giáo dục số 238, 240 tháng 5/2010;. Trong công trình nghiên cứu của mình Nguyễn Văn Lê đã đưa ra quan điểm là quản lý giáo dục phải chú ý đến công tác bồi dưỡng GV về tư tưởng chính trị, về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng lực cho họ [21]. Trong khi đó Trần Thị Bích Liễu nhấn mạnh đến những yêu cầu đối với công tác quản lý nhà trường trong những điều kiện mới: “Đổi mới chương trình sách giáo khoa đòi hỏi đổi mới phương pháp quản lý và lãnh đạo của hiệu trưởng sao cho phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của các thành viên trong trường” [22, tr. Trong công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Thị Quý (Viện nghiên cứu giáo dục - Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh) đưa ra quan 10 điểm muốn nâng cao năng lực GV cần thiết phải thực hiện được 2 vấn đề cơ bản là GV phải có mức lương đủ sống để nuôi gia đình mà không phải làm thêm nghề khác, GV được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ thiết thực để nâng cao tay nghề.
Tại hội thảo: Làm thế nào để nâng cao chất lượng đội ngũ GV, do bộ GD&ĐT tổ chức tháng 12/2003, nhiều nhà quản lý giáo dục đều thống nhất rằng muốn nâng cao chất lượng đội ngũ thì hệ thống các trường sư phạm phải đi đầu về cả phương pháp lẫn chương trình, giáo trình giảng dạy. Mỗi trường sư phạm cần xây dựng cơ chế liên kết với một tỉnh, thành phố để biết rõ nhu cầu thực tế GV trong tương lai của địa phương và có kế hoạch đào tạo cho phù hợp. Ngoài ra còn có một số luận văn khoa học quản lý giáo dục nghiên cứu về đề tài này như luận văn của tác giả Trương Anh Tuấn: “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo chuẩn nghề nghiệp” (2011) [29]; luận văn của tác giả Nguyễn Văn Khôi: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa” (2011) [19]. Một số khái niệm cơ bản 1.
Giáo viên và đội ngũ giáo viên 1. Giáo viên Theo từ điển Giáo dục học: “GV là chức danh nghề nghiệp của người dạy học trong các trường phổ thông, trường nghề và trường mầm non, đã tốt nghiệp các trường sư phạm có trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học hoặc sư phạm mẫu giáo. GV là người truyền thụ toàn bộ các kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình bộ môn của bậc học, cấp học” [30, tr. Thuật ngữ “GV” là một khái niệm được dùng rất phổ biến.
Theo cách gọi thông thường, GV được hiểu là người làm nghề dạy học. 11 Tuy nhiên, ở nước ta bên cạnh danh từ “GV” đang tồn tại nhiều thuật ngữ và danh hiệu khác được dùng để chỉ người làm công tác dạy học ở các cấp bậc giáo dục, đào tạo khác nhau như cô nuôi dạy trẻ, GV mẫu giáo, giảng viên, cán bộ giảng dạy, nhà giáo. Tại Điều 70, Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về nhà giáo và những tiêu chuẩn của một nhà giáo: - Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác. - Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây: + Phẩm chất, đạo đức tư cách tốt.
+ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ. + Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp. + Lý lịch bản thân rõ ràng [26, tr. Luật giáo dục cũng đã quy định rất cụ thể và tên gọi đối với từng đối tượng nhà giáo theo cấp, bậc giảng dạy và công tác.
Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là GV. Nhà giáo giảng dạy và công tác ở các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên. Đội ngũ giáo viên * Đội ngũ Ngày nay, thuật ngữ đội ngũ được sử dụng tương đối rộng rãi trong ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, chẳng hạn như đội ngũ cán bộ, đội ngũ GV, đội ngũ trí thức v. Trong Từ điển Tiếng Việt thì đội ngũ được định nghĩa như sau: Đội ngũ là một khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng chiến đấu.
12 Đội ngũ là một tập hợp gồm số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng.