Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đề cập ngay từ khi vừa giành được chính quyền với phong trào “bình dân học vụ”. Giặc dốt đã được coi là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chính quyền non trẻ ngang với giặc ngoại xâm và giặc đói. Đi đôi với đó là vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên đã được Đảng, Nhà nước và cả xã hội hết sức quan tâm.
Khi miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là từ khi đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng chỉ đạo, tạo điều kiện tốt nhất cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, trong đó có việc nghiên cứu về đội ngũ giảng viên. Tiên phong là các công trình nghiên cứu về đội ngũ giảng viên được triển khai dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đó là các công trình nghiên cứu về mô hình nhân cách của đội ngũ giáo viên các bậc học, cấp học và mô hình nhân cách của người quản lý nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân. Các hội thảo khoa học về chủ đề đội ngũ giáo viên dưới góc độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc học đã được thực hiện.
Một số nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003). Quản lý đội ngũ. Modul C - Chuyên đề 6, Chương trình huấn luyện kỹ năng quản lý và dự án lãnh đạo, Dự án giáo viên THCS, Hà Nội [22]; Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Doan (2002). Phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục Đại học Việt Nam.
Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội [27] … Gần đây, nhất là từ khi ngành quản lý giáo dục được đưa vào đào tạo trong bậc sau đại học, nhiều luận văn tốt nghiệp đã chọn đề tài nghiên cứu 4 z thuộc lĩnh vực quản lý đội ngũ trong giáo dục, trong đó có vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên. Các tác giả nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên theo bậc học và ngành học trong đó chủ yếu đề cập đến đội ngũ giáo viên của các khối trường Trung học chuyên nghiệp và giảng viên của các trường Đại học, Cao đẳng. Như nghiên cứu của tác giả Đào Thị Hồng Thủy (2004) với nghiên cứu về xây dựng đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội trong giai đoạn hiện nay [37]; nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Chánh (2001) về giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Bạc Liêu [20]; nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lan (2005) về những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc - Họa Trung ương đến năm 2010 [34]; nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hạnh Vân (2006) về giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường trong giai đoạn hiện nay [38]; nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Cường (2006) về giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông thành phố Yên Bái trong giai đoạn hiện nay [28];. Tùy vào mức độ, yêu cầu của thực tiễn mà việc nghiên cứu về đội ngũ giáo viên còn được thực hiện dưới góc độ là nội dung của công tác quy hoạch phát triển giáo dục các vùng, miền lãnh thổ.
Qua các nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau: - Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên đã được triển khai ở nhiều không gian và thời gian khác nhau và đặc biệt được quan tâm trên bình diện quản lý giáo dục. - Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên tập trung vào các mảng: nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên theo cấp bậc và ngành học; nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên cho từng cơ sở giáo dục thuộc các cấp, bậc, ngành học. 5 z - Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên rải khắp ở các bậc học nhưng tập trung nhiều vào đội ngũ giáo viên, giảng viên của các trường phổ thông trung học và các trường cao đẳng. - Tại Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định chưa có nghiên cứu cụ thể nào về đội ngũ giảng viên.
Việc nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên tại Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định cần được quan tâm nghiên cứu một cách hệ thống. Các khái niệm cơ bản 1. Đội ngũ giảng viên 1. Giảng viên Theo điều 61 Luật giáo dục nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998 chỉ rõ “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác.
Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên” [13, tr. Theo Luật giáo dục nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “Giảng viên là tên gọi chỉ nhà giáo thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục tại các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học”. Trang 50 Luật giáo dục (1999), Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (10. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội.
Nhà giáo là nhân tố ảnh hưởng chính và quyết định đến chất lượng của giáo dục. Lao động của họ tạo ra sản phẩm là con người được giáo dục, đào tạo về kiến thức cơ bản, có chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng lao động đáp ứng nhu cầu của kinh tế xã hội. Trong công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập của đất nước ta hiện nay, lao động của nhà giáo trực tiếp đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước. Lao động của nhà giáo đồng thời hình thành nhân cách cho lớp thế hệ trẻ theo nhu cầu của công cuộc 6 z công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Với nguồn nhân lực hùng hậu được đào tạo sẽ góp phần vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài mà Đảng và Nhà nước đang hướng tới. Không chỉ ý nghĩa xã hội kể trên, lao động của nhà giáo còn có ý nghĩa kinh tế quan trọng. Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ tác động mạnh mẽ đến quá trình sản xuất vật chất và tinh thần khiến người lao động phải đứng trước những thách thức mới. Người lao động buộc phải có những năng lực thích hợp, phải phù hợp với những thay đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ; những thay đổi về môi trường lao động đến hệ thống quản lý điều hành sản xuất.
Nó buộc người lao động phải có kỹ năng lao động sâu hơn, rộng hơn, phải có năng lực đổi mới thích ứng nhanh chóng, cập nhật nhanh nhất các kỹ thuật công nghệ mới. Nhà giáo sẽ góp phần không nhỏ vào việc tạo ra sự thay đổi kỹ năng, cách tiếp cận với kỹ thuật, công nghệ mới tạo ra chất lượng giáo dục, đào tạo cao hơn đáp ứng cho nhu cầu của sự phát triển kinh tế ngày một cao hơn. Giảng viên là những nhà giáo làm công tác giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng. Không những truyền thụ kiến thức khoa học, kỹ năng , kỹ xảo, khả năng thực hành cho sinh viên mà họ còn dạy cho sinh viên cách học, cách đưa ra sáng kiến, ý tưởng trong công việc; xây dựng nhân cách cho sinh viên nhằm đạt được mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Luật giáo dục, điều 14 nói về vai trò của nhà giáo: “Nhà giáo có vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học” [13]. Hiện nay, trong bối cảnh đổi mới giáo dục để đáp ứng với những thay đổi không ngừng trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa và xã hội thì yêu cầu với đội ngũ nhà giáo ngày một cao hơn. Yêu cầu nhà giáo phải có các phẩm chất, năng lực sau: 7 z - Phẩm chất đạo đức tốt.
Phẩm chất hàng đầu của nhà giáo là lòng yêu nước, giác ngộ xã hội chủ nghĩa. Nó thể hiện ở niềm tin cách mạng trong sáng và cao thượng. Tình cảm này xuất phát từ lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng đó là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Nó còn thể hiện ở lòng yêu nghề và có nhu cầu làm việc tại cơ sở đào tạo; có trách nhiệm với học sinh, có tính kiên trì, thái độ kiềm chế và chủ động trong cách đối xử với học sinh; có nếp sống giản dị, khiêm tốn, lịch sự.
- Về trình độ chuyên môn, trong công tác đào tạo, đội ngũ nhà giáo giữ vai trò quyết định đối với chất lượng và hiệu quả đào tạo. Trước hết họ là những người thầy và mặc dù không phải là nguồn kiến thức chủ yếu, độc tôn đối với người học xong nhiệm vụ quan trọng của nhà giáo là cung cấp những kiến thức một cách chính xác, có hệ thống đồng thời giúp người học biết cách tự học, biết cách nghiên cứu khoa học, tổng kết rút kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình. Trình độ chuyên môn của thầy phải giỏi, có chuyên môn sâu, có bằng cấp đạt tiêu chuẩn, có khả năng trả lời những câu hỏi của người học, ít nhất là trong chuyên môn của mình phụ trách. Luôn luôn quan tâm đổi mới, lựa chọn nội dung, chương trình phù hợp với mục tiêu đào tạo.
- Yêu cầu về nghiệp vụ sư phạm. Trình độ sư phạm là trình độ nghề nghiệp hoạt động cao của những nhà giáo, đó là sự thể hiện độc đáo không chỉ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn cả việc xử lý những tình huống khó đòi hỏi có tính tâm lý giáo dục, nhân cách được phát triển phù hợp với các yêu cầu hoạt động nghề nghiệp. Muốn có chất lượng dạy học tốt thì nhà giáo phải có trình độ sư phạm tốt, phải có một hệ thống tri thức giỏi về chuyên môn, phải nắm được một hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định, phải rèn luyện được những phẩm chất, nhân cách đặc trưng cho nghề dạy học.