phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển ĐNGV ở Trung tâm GDQPAN. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển ĐNGV ở Trung tâm GDQPAN, Trường đại học Hồng Đức. Chƣơng 3: Một số biện pháp phát triển ĐNGV ở Trung tâm GDQPAN, Trường đại học Hồng Đức trong giai đoạn hiện nay. 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG AN NINH 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Những công trình nghiên cứu trên thế giới Từ những năm 1990 UNESCO đã thực hiện các nghiên cứu về phát triển ĐNGV. Từ những năm 1998 Commonweath cũng đã đề cập đến các vấn đề này. Nhiều tác giả và tác phẩm nghiên cứu sâu về sự cần thiết, những thách thức, các kinh nghiệm và các giải pháp phát triển ĐNGV.
Trong các công trình nghiên cứu này các tác giả đều nhấn mạnh tầm quan trọng của ĐNGV đối với chất lượng của trường đại học. Một ĐNGV có chất lượng tốt và có nhiều sáng kiến là sự đảm bảo chắc chắn đối với chất lượng của trường đại học trong thế giới đầy sự biến đổi này. Phát triển đội ngũ, chìa khóa tạo nên chất lượng của đội ngũ (Fielden J, 1998). Phát triển ĐNGV được xem là mấu chốt để giúp một trường đại học thành công.
Trên thế giới, nhiều quốc gia nhất là ở các nước đang phát triển đã có những nghiên cứu về quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của giáo viên, GV một cách rõ rệt, sâu sắc ở những khía cạnh và nội dung khác nhau. Trong việc phát triển một thế hệ trẻ đủ năng lực và phẩm chất để tạo nên nguồn nhân lực cho Việt Nam trong bối cảnh mới, đội ngũ nhà giáo có vai trò quyết định. Raja Roy Singh, chuyên gia giáo dục của UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khi nói về triển vọng giáo dục cho thế kỷ XXI đã cho rằng thành công của các cuộc cải cách giáo dục phụ thuộc dứt khoát vào ý chí muốn thay đổi cũng như chất lượng giáo viên, không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó. Nhiều nước trong khu vực và trên thế giới coi giáo dục và đào tạo là một trong những nhân tố quan trọng có tính quyết định đến sự phát triển KT-VH-XH và sự hưng thịnh của đất nước, những thập niên cuối của thế kỷ 20 đã có những cải tổ về 7 giáo dục và đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng với yêu cầu khoa học và công nghệ ngày càng phát triển của xã hội.
GDQPAN của một số nước láng giềng khu vực Đông Nam Á như: Singapor, Indonexia, Phillipin. chủ yếu do hệ thống giáo dục quốc phòng tư nhân đảm nhiệm có sự hỗ trợ, điều tiết của Nhà nước. Kinh nghiệm của của các nước như Hoa Kỳ,Trung Quốc, Thái Lan cho thấy, ĐNGV luôn được xem là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo; việc đào tạo và quản lý ĐNGV phải có tầm chiến lược; cơ chế quản lý của các nhà trường phải hướng tới mô hình tự chủ gắn với trách nhiệm xã hội; có chính sách thu hút nhân tài tham gia vào sự nghiệp GD&ĐT; tôn trọng sự tự do học thuật của GV; gắn kết việc thực hiện chức năng giảng dạy và NCKH của ĐNGV; thay vì chế độ biên chế suốt đời tạo nên sức ỳ và tư tưởng “trung bình chủ nghĩa” trong ĐNGV như ở các trường công lập của Việt Nam, một số nước đã áp dụng chính sách hợp đồng giảng dạy kết hợp với các hình thức đánh giá, sàng lọc, tạo sự cạnh tranh trong ĐNGV, buộc mỗi cá nhân GV muốn tồn tại và phát triển phải luôn ý thức tự phấn đấu nâng cao năng lực để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Những công trình nghiên cứu ở trong nước 1.
Công tác phát triển ĐNGV nói chung Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục của đất nước.Người đã có những chỉ dẫn hết sức quý báu về mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp giáo dục. nhằm phát triển một nền giáo dục toàn diện. Những chỉ dẫn đó không chỉ có giá trị trực tiếp chỉ đạo công tác giáo dục của đất nước thời đó, mà vẫn còn nguyên giá trị định hướng, soi đường cho công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo của nước ta hiện nay. Ngay sau khi đất nước vừa độc lập (02/9/1945), Người đã quan tâm và bắt tay ngay vào việc “diệt giặc dốt” vì người biết “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.[16] 8 Giáo dục Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những bước tiến đáng kể song, bên cạnh đó còn gặp phải không ít khó khăn, thách thức.
Trong công cuộc đổi mới đất nước đòi hỏi phải nâng cao chất lượng GD&ĐT, trong đó phát triển ĐNGV là khâu then chốt quyết định đến vấn đề nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài theo tình thần Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Một số đầu sách nghiên cứu có liên quan đến GDQPAN. Giáo trình GDQPAN dùng cho đào tạo giáo viên GDQPAN do nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, năm 2010 [4]. Có nội dung thể hiện đường lối, chủ trương của Đảng ta về đường lối quân sự, công tác quốc phòng - an ninh.
Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tiến hành chiến tranh nhân dân, phòng chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm trang bị cho giáo viên GDQPAN một lượng kiến thức đủ chuẩn làm công tác giảng dạy. Luật GDQPAN có hiệu lực năm 2014 do nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội phát hành, là một Luật mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua gồm có 8 chương 47 điều, quy định mục tiêu, đối tượng, trách nhiệm của các tổ chức xã hội, quy định giáo viên giảng dạy GDQPAN “Giáo viên, GV GDQPAN phải có trình độ cử nhân GDQPAN trở lên; đối với người đã có trình độ cử nhân trở lên ở chuyên ngành khác thì phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và chứng chỉ đào tạo giáo viên, GV GDQPAN”[33]. Luật GDQPAN đã thể hiện rõ những quy định về trách nhiệm của các chủ thể trong nhiệm vụ GDQPAN, đặc biệt yêu cầu nâng cao chất lượng ĐNGV làm công tác giảng dạy môn GDQPAN ở các trường học. Quyển Các văn bản hiện hành về GDQPAN và công tác quốc phòng trong ngành giáo dục và đào tạo do nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, năm 2010 [5].
Là quyển sách tổng hợp các quyết định, chỉ thị, thông tư, các văn bản quy định pháp luật về GDQPAN hiện nay, quyển sách như một cẩm nang mà tất cả giáo viên giảng dạy GDQPAN đều phải có, để nghiên cứu, thực hiện theo đúng quy định của nhà nước. Quyển Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình 9 hình mới năm 2013, của trung tướng Bế Xuân Trường, đại tá Nguyễn Bá Dương, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội [1]. Cuốn sách này giúp cho cán bộ, chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước nhìn nhận rõ hơn bản chất khoa học, cách mạng, tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta khẳng định trong những năm đổi mới. Qua đó, luận chứng rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nêu rõ vì sao chúng ta nhất quán khẳng định quan điểm và nguyên tắc kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Quyển Giáo dục an ninh - trật tự của nhóm tác giả Tạ Ngọc Vãng, Bùi Văn Thịnh, Phạm Đình Xinh, Đinh Tuấn Anh, Phan Tấn Hoài, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, bao gồm 6 chương, có nội dung thể hệ thống pháp luật về an ninh trật tự của Việt Nam, những vấn đề cơ bản về an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phòng chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ của các thế lực thù địch. Đây là quyển sách có hàm lượng kiến thức cao, nhằm trang bị cho người giáo viên giảng dạy môn học QP-AN nhiều kiến thức định hướng tốt cho công tác chuyên môn. Một số luận văn, luận án nghiên cứu về GDQPAN đã được công bố. Luận án tiến sĩ của Hoàng Văn Tòng Quản lí GDQPAN cho SV các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh mới[15].
Công trình đã khảo sát, nghiên cứu về thực trạng quản lý GDQPAN ở các trường đại học Việt Nam, trên cơ sở thực trạng còn tồn tại nhiều khuyết điểm, kìm hãm chất lượng GDQPAN, công trình đã nghiên cứu đề ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý cũng như chất lượng môn học GDQPAN trên phạm vi cả nước. Luận văn thạc sĩ của Trần Văn Duân Phát triển ĐNGV GDQPAN ở các trường đại học Đồng bằng sông Cửu Long[43]. Luận văn đã nghiên cứu về thực trạng của ĐNGV GDQPAN ở các trường đại học Đồng bằng sông Cửu Long, công trình đã vạch ra số lượng của ĐNGV còn ít, chất lượng của ĐNGV còn hạn 10 chế, chưa ngang tầm với nhiệm vụ hiện nay và đề ra nhiều giải pháp phát triển đội ngũ có đủ số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu GDQPAN trong các trường đại học trên địa bàn Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay. Các bài báo có nội dung nghiên cứu về GDQPAN, nâng cao chất lượng GDQPAN đăng trên tạp chí khoa học như “Đổi mới phương pháp giảng dạy - khâu đột phá nâng cao chất lượng GDQPAN” của GS.
Nguyễn Thiện Minh trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (số 1-2014) [25] đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDQPAN cần tập trung ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn của ĐNGV và xem đây là nội dung then chốt để nâng cao chất lượng môn học GDQPAN. Bài của Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ “Đẩy mạnh công tác GDQPAN, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc” trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (số 8-2014) [40].