chương 1 luật doanh nghiệp 2014). Trên thực tế, có nhiều các định nghĩa khác nhau, các góc nhìn khác nhau về doanh nghiệp FDI. Luật Đầu tư 2014 không đề cập trực tiếp loại hình doanh nghiệp này mà chỉ định nghĩa một cách khái quát tại Khoản 17 Điều 3 như sau: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”. [29] Định nghĩa của doanh nghiệp FDI cũng có được nhắc đến trong định nghĩa của tổ chức Thương mại Thế giới là: “Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh, trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.
Doanh nghiệp FDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bên nước ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài. Doanh nghiệp này hoạt động theo luật pháp của nước sở tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích cho tất cả các bên [17]. Doanh nghiệp có vốn FDI là những tổ chức kinh tế quốc tế có tư cách pháp nhân của nước chủ nhà, có vốn của bên nước ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài để tiến hành các hoạt động kingh doanh nhằm thu đươc lợi ích kinh tế [17]. Tuy nhiên, một cách khái quát và ngắn gọn nhất, có thể hiểu rằng: Doanh nghiệp FDI là các loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân tại nước tiếp nhận đầu tư và có vốn đầu tư tối thiểu để tham gia quản lý trực tiếp hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu lại lợi ích cho các bên tham gia đầu tư.
Khái niệm về phát triển doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - Khái niệm về phát triển Theo Từ điển Tiếng Việt “phát triển” được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”.
Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện. Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại (bên trong) quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó; là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống. [23] - Khái niệm về phát triển doanh nghiệp Phát triển doanh nghiệp là quá trình vận động đi lên của một doanh nghiệp từ số lượng doanh nghiệp đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp (lao động, nguồn vốn, doanh thu); hiệu quả hơn về số lượng và có sự hoàn chỉnh hơn về cơ cấu doanh nghiệp theo vùng lãnh thổ, thành phần kinh tế và ngành sản xuất kinh doanh, góp phần phục vụ ngày càng đầy đủ và tốt hơn các nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
- Phát triển doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Phát triển doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự phát triển về số lượng cũng như chất lượng của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trên góc độ vùng, phát triển doanh nghiệp FDI được thể hiện thông qua các chỉ tiêu sau: - Số lượng doanh nghiệp tại địa phương tăng lên. - Sự thay đổi về cơ cấu loại hình doanh nghiệp (phân theo ngành nghề, hình thức đầu tư, quốc gia đầu tư) theo định hướng phát triển của địa phương. - Sự tăng lên về quy mô doanh nghiệp (quy mô vốn, lao động, tài sản cố định, trình độ ứng dụng khoa học công nghệ) 8 Theo góc độ phạm vi trong một doanh nghiệp, phát triển doanh nghiệp FDI được thể hiện thông qua các chỉ tiêu sau: - Sự tăng lên về các nguồn lực sản xuất kinh doanh: Đất đai, vốn, lao động (số lượng và chất lượng), trình độ quản lý, công nghệ sản xuất kinh doanh.
- Thay đổi quá trình sản xuất kinh doanh có lợi cho doanh nghiệp: yếu tố đầu vào, quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ; tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. - Thay đổi kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI. Việc phát triển doanh nghiệp FDI luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng nêu rõ: “Rà soát, sửa đổi pháp luật, chính sách để thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, nhất là các dự án có công nghệ cao, thân thiện môi trường, sản phẩm có giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa cao, tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế; tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài có công nghệ cao, thân thiện môi trường, sử dụng nhiều lao động; khuyến khích đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và các ngành công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo, vật liệu mới, điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nhân lực và chăm sóc sức khoẻ chất lượng cao. Có cơ chế ưu đãi linh hoạt đối với các dự án đặc thù; khuyến khích thành lập các trung tâm nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI) xuất hiện với nhiều loại hình, cách thức tổ chức và hoạt động khác nhau.
Việc nhận thức khái niệm, đặc điểm có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước đối với chúng. Doanh nghiệp FDI Việt Nam có một số đặc điểm như sau: FDI là hình thức đầu tư bằng vốn của các nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài tự mình ra quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả cao. Chủ đầu tư nước ngoài điều hành doanh nghiệp hoạt động theo tỷ lệ góp vốn của mình.
Các chủ đầu tư phải đóng góp một khối lượng vốn tối thiểu theo quy định của từng quốc gia. Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy định chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án. Doanh nghiệp FDI có sự tham gia quản lý trực tiếp của nước ngoài, các chủ đầu tư cũng có thể điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn 9 nước ngoài. Sự phân chia quyền quản lý các doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ đóng góp vốn.
Nếu đóng góp 10% vốn thì doanh nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành và quản lý. Tỷ lệ vốn quy định vốn phân chia quyền lợi và nghĩa vụ các chủ đầu tư, thu nhập chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế và trả lợi tức cổ phần. Nhà đầu tư nước ngoài sau một thời gian đầu tư, họ có thể mở rộng đầu tư bằng nguồn lợi nhuận thu được của dự án đầu tư. FDI đang có xu hướng quay trở lại các thị trường các nước công nghiệp hóa phát triển.
Theo Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), dòng vốn đầu tư FDI đang có sự chuyển dịch quan trọng, theo đó, vốn đầu tư từ các nước phát triển, từ các tập đoàn đa quốc gia ngày càng chảy nhiều hơn vào các nước công nghiệp hóa, thay vì các nước đang phát triển như những năm trước đây. Trong khi đó, các nền kinh tế mới nổi cũng gia tăng mạnh đầu tư ra nước ngoài để tiếp cận những thị trường mới. Về thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia ASEAN liên tục ghi nhận sự tăng trưởng tích cực về FDI trong những năm gần đây. Cơ cấu và phương thức FDI trở nên đa dạng hơn.
Trong những năm gần đây cơ cấu và phương thức đầu tư nước ngoài trở nên đa dạng hơn so với trước đây. Theo đó, đã hình thành hệ thống phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng và sự thay đổi môi trường kinh tế thương mại toàn cầu. Cơ cấu FDI vào các nước công nghiệp phát triển đã có những thay đổi rõ rệt: Thứ nhất, vai trò và tỉ trọng của đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học cao tăng lên. Hơn 1/3 FDI tăng lên hàng năm tập trung vào các ngành then chốt như: điện tử, chế tạo máy tính, chất dẻo, hoá chất và chế tạo máy.
Thứ hai, tỷ trọng của các ngành công nghiệp chế tạo giảm xuống trong khi FDI vào các ngành dịch vụ tăng lên. Một số lĩnh vực được ưu tiên là các dịch vụ thương mại, bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và giải trí. FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư. Nước nhận đầu tư tiếp nhận được công nghệ kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài thông qua các chương trình đào tạo hoặc qua trực tiếp tham gia quản lý.
FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công nghệ với xu hướng ngày càng gắn bó chặt chẽ với 10 chuyển giao công nghệ. Đây chính là hình thức có hiệu quả nhất của sự lưu chuyển vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phải được tổ chức dưới các hình thức doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài có quyền lựa chọn một loại hình doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của mình để thực hiện hoạt động kinh doanh ở Việt Nam: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên và Công ty cổ phần.