Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững Năm 1987, Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển lần đầu tiên đưa ra định nghĩa tương đối đầy đủ về phát triển bền vững (PTBV) là “Sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Sau đó, nội hàm PTBV được tái khẳng định ở Hội nghị Rio-92 và được hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg năm 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển gồm phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường (BVMT)“ [Chính phủ, 2004].
Qua 20 năm thực hiện PTBV, mô hình phát triển thế giới vẫn là kinh tế truyền thống (nâu), phụ thuộc tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và mất cân bằng sinh thái. Gần đây trên phạm vi toàn cầu, liên tiếp xảy ra những cuộc khủng hoảng mới, trong đó biến đổi khí hậu (BĐKH) được cho là thách thức lớn nhất của nhân loại thế kỷ XXI. Trong bối cảnh đó, thuật ngữ “tăng trưởng xanh” đã ra đời [Trương Quang Học và Hoàng Văn Thắng, 2015]. Khái niệm tăng trưởng xanh (TTX) được hình thành sớm nhất khi Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á và Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc (UNESCAP) tổ chức Diễn đàn đối thoại chính sách Hướng tới TTX ở châu Á- Thái Bình Dương tháng 11/2005.
Theo đó, TTX được định nghĩa là “tăng trưởng nhấn mạnh sự tiến bộ kinh tế bền vững về môi trường nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội toàn diện và ít các bon”[UNESCAP, 2010]. OECD [2011b] lại cho rằng, “TTX là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, mà vẫn đảm bảo các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống của chúng ta”. Trong khi đó, Ngân hàng thế giới (WB) [2012] định nghĩa, TTX là sự tăng trưởng hiệu quả trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, là sự tăng trưởng sạch vì nó giảm thiểu ô 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiễm và tác động môi trường, là sự tăng trưởng có sức chống chịu.Có thể thấy nhiểu tổ chức quốc tế, nhiều quốc gia trên thế giới đề cập và được hiểu ở những khía cạnh khác nhau. Nhưng có một quan điểm chung, đó là: TTX là sự tăng trưởng hiệu quả trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm và tác động môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.
Có thể nói, TTX là quá trình “xanh hóa” hệ thống kinh tế truyền thống và là chiến lược để tiến tới một nền kinh tế “xanh”., Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế chỉ là “sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định“ [Nguyễn Đình Luận, 2015]. Điều này cho thấy, khác với tăng trưởng “nâu„, nhân tố môi trường trong khái niệm tăng trưởng xanh thực sự đóng vai trò là nền tảng cho tăng trưởng và các hoạt động kinh tế [Rogall, 2011; Nguyễn Danh Sơn, 2011] (Hình 1.1) Nguồn: Rogall, 2011 Nguồn: Nguyễn Danh Sơn, 2011 Hình 1. Môi trường - nền tảng cho các hoạt động kinh tế và chất lượng cuộc sống con người Ở Việt Nam, chiến lược TTX được định nghĩa là chiến lược thúc đẩy quá trình tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thông qua tăng cường đầu tư vào đổi mới công nghệ, vốn tự nhiên, công cụ kinh tế. Từ đó góp phần ứng phó BĐKH, giảm nghèo và đảm bảo phát triển kinh tế bền vững [Chính phủ, 2012b].
Trong đó, xanh hóa sản xuất hay hướng đến sản xuất xanh là một trong ba nhóm nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sản xuất xanh và các khái niệm liên quan Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền [Nguyễn Bích Lâm, 2007].
Nói một cách đơn giản, quá trình sản xuất là việc sử dụng các yếu tố đầu vào là nguyên vật liệu thô, vốn, con người, trang thiết bị, kỹ thuật công nghệ và các nguồn tài nguyên khác để chuyển đổi nó thành sản phẩm/dịch vụ và chất thải (rắn, lỏng, khí). Có thể nói, sản xuất là cốt lõi của nền kinh tế, luôn gắn với tăng trưởng và phát triển. Đi liền với nó là tài nguyên và môi trường, đặc biệt là vấn đề phát thải. Khác với sản xuất truyền thống,“sản xuất xanh“ được xem là một nội dung quan trọng của TTX.
Cũng như thuật ngữ TTX, hiện có nhiều nghiên cứu đã đề cập đến định nghĩa về sản xuất xanh (SSX). Điển hình là các nghiên cứu của Cortellini [2001]; Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) [2011b]; Dornfeld et al.Mặc dù quan điểm và cách tiếp cận về SSX của một số tổ chức và các chuyên gia còn chưa thống nhất nhưng nhìn chung đều cho rằng, SSX là việc thực hiện bất kỳ một thay thế nào trong quá trình sản xuất mà dẫn đến việc giảm tiêu thụ năng lượng, tài nguyên, giảm thải các sản phẩm phụ ra môi trường. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng định nghĩa SSX của UNEP [2011b]. Theo đó, “mục đích chính của SXX là giảm lượng tài nguyên thiên nhiên cần thiết để tạo ra sản phẩm thông qua sử dụng các quy trình sản xuất tiết kiệm năng lượng và tài nguyên, đồng thời giảm tác động tiêu cực đến môi trường.
Theo nghĩa rộng, SSX liên quan đến việc tái thiết kế sản phẩm, hệ thống sản xuất và mô hình kinh doanh, cũng như trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong thu hồi, sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch và tái chế một cách tối đa. Bên cạnh thuật ngữ SSX, “sản xuất bền vững“, “sản xuất thân thiện môi trường“, „sản xuất sạch hơn“ hay “sản xuất tinh gọn“ cũng có nghĩa tương tự và đều có mục tiêu hướng đến PTBV. Thuật ngữ "sản xuất tinh gọn“ lần đầu xuất hiện 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm 2000, trong cuốn "The Machine that Changed the World" (Cỗ máy làm thay đổi thế giới) của Womack. Theo đó, “Tinh gọn” là phương thức sản xuất cải tiến có hệ thống, liên tục và tập trung vào việc tạo thêm giá trị cho khách hàng, đồng thời hạn chế tối đa lãng phí trong quá trình sản xuất/dịch vụ của một tổ chức [Lê Thị Kiều Oanh, 2014; Nguyễn Đăng Minh, 2016].
Tuy nhiên, phương thức này chủ yếu tập trung hiệu quả kinh tế mà chưa quan tâm nhiều đến hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm tác động môi trường. Trái với ‚sản xuất tinh gọn, „sản xuất thân thiện môi trường“ và “sản xuất sạch hơn“ gần với khái niệm sản xuất xanh hơn. Sản xuất thân thiện môi trường đề cập đến việc duy trì một nền kinh tế phát triển mà không gây tổn hại đến môi trường và có xu hướng chuyển từ giá trị khách hàng sang những quan tâm môi trường [Dornfeld et al. Còn sản xuất sạch hơn lần đầu tiên được UNEP giới thiệu và được định nghĩa là “Việc áp dụng liên tục một chiến lược phòng ngừa môi trường tổng hợp đối với các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường” [UNEP, 2009].
Qua phân tích định nghĩa cho thấy, SSX có bản chất rộng hơn nhiều, không chỉ tập trung vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp như sản xuất tinh gọn hay sản xuất sạch hơn và còn thể hiện cả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (đó là trách nhiêm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái và hệ thống khí hậu). Đối với „sản xuất bền vững“, thuật ngữ này cũng đã được nhiều nghiên cứu đề cập như Rosen and Kishawy [2012]; Dornfeld et al. Theo đó, sản xuất bền vững là "việc tạo ra sản phẩm hàng hóa, trong đó áp dụng các quá trình nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực môi trường, bảo tồn năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, an toàn cho người lao động, cộng đồng và người tiêu dùng". Trên cơ sở phân tích trên, như vậy, sản xuất xanh có nội hàm của sản xuất bền vững, trong đó nhấn mạnh yếu tố môi trường.2 mô tả các phương thức sản xuất khác nhau dựa trên 3 trụ cột quan trọng của PTBV.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguồn: Dornfeld et al. Sản xuất trong mối liên quan với các trụ cột bền vững 1. Chỉ thị giám sát và đánh giá tăng trưởng xanh ở cấp độ doanh nghiệp UNEP đã khẳng định vai trò của việc đo lường sự tiến bộ của TTX, mà qua đó, mới có thể quản lý và thúc đẩy quá trình này. Việc giám sát và đánh giá việc thực hiện TTX thường thông qua chỉ số hay chỉ thị [Võ Thanh Sơn, 2015; Vũ Tuấn Anh và cs.
Ở cấp độ doanh nghiệp, theo OECD [2011a], chỉ thị là một trong những công cụ hữu hiệu nhằm theo dõi, đánh giá và cải tiến quá trình TTX, từ đó giúp các lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra những chính sách phù hợp và hiệu quả. Ngoài ra, việc áp dụng các chỉ thị giám sát và đánh giá TTX còn có thể giúp doanh nghiệp thiết lập và đạt được các mục tiêu đề ra. Tuy nhiên khái niệm về tiêu chí, chỉ thị, quy trình, giám sát và đánh giá hiện còn khác nhau. Trong nghiên cứu này, nhất quán hiểu các khái niệm này như sau: - Tiêu chí (criteria): được hiểu là tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, hiện tượng nào đó [Nguyễn Bá Dương, 2013].
- Chị thị (indicators): Theo Chế Đình Lý [2006], chỉ thị là một tham số (parameter) hay số đo (metric) hay một giá trị kết xuất từ tham số, dùng cung cấp thông tin, chỉ về sự mô tả tình trạng của một hiện tượng/ môi trường/ khu vực, nó là thông tin khoa học về tình trạng và chiều hướng của các thông số liên quan môi trường. Các chỉ thị truyền đạt các thông tin phức tạp trong một dạng ngắn gọn, dễ hiểu.