lời mở đầu, phụ lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo … và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển kinh doanh dịch vụ trung gian phái sinh hàng hoá. Chƣơng 2: Thực trạng về phát triển kinh doanh dịch vụ trung gian phái sinh hàng hoá tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đaklak. Chƣơng 3: Các giải pháp phát triển kinh doanh dịch vụ trung gian phái sinh hàng hoá tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đaklak. Tổng quan tài liệu Để phục vụ việc nghiên cứu, thực hiện đề tài “Phát triển kinh doanh dịch vụ trung gian phái sinh hàng hoá tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Chi nhánh Đaklak”, tôi đã tìm đọc một số tài liệu nghiên cứu khoa học, luận văn liên quan đã đƣợc công bố trƣớc đó.
Trên cơ sở nghiên cứu những công trình ấy, tôi xem xét, đánh giá để tìm ra những mặt đạt đƣợc, những tồn tại. Đối với những mặt đã đạt đƣợc tôi nghiêm túc tiếp thu. Đối với những tồn tại, tôi tiếp tục nghiên cứu để tránh hoặc khai thác tiếp để đƣa ra những nét mới. Mãng đề tài liên quan đến lĩnh vực phái sinh hàng hoá cũng nhƣ phái sinh nói chung còn rất hạn chế, vì thế việc tìm kiếm nguồn tƣ liệu cũng gặp không ít khó khăn.
Tuy nhiên trong quá trình đó, tôi đã tìm thấy một số tài liệu sau Luan van 5 1. Ngô Thị Hoài Thu (2011), Nghiên cứu các điều kiện vận dụng các công cụ tài chính phái sinh tại Ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cầu, luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh. Đề tài này, tác giả đã làm rõ đƣợc các điều kiện để vận dụng công cụ phái sinh, bao gồm các những công cụ phái sinh đối với các tài sản cơ sở là hàng hoá, tiền tệ, chứng khoán và các điều kiện để vận dụng công cụ phái sinh tại thị trƣờng tài chính Việt Nam nói chung. Tuy nhiên đề tài chỉ dừng lại ở mức độ chung chung, chƣa cụ thể hoá việc vận dụng đối với các Chi nhánh Ngân hàng, hay các công ty chứng khoán.
Lê Thị Minh Hƣờng (2012), Phát triển hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Chi nhánh Đà Nẵng, luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh. Đề tài này, tác giả đã hệ thống hoá cơ sở lý luận liên quan đến công cụ phái sinh tiền tệ; các nhân tố tác động đến hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ. Cách tiếp cận vấn đề, đƣa ra quan điểm và cách thức đánh giá là khoa học, chặt chẽ. Tuy nhiên đề tài chƣa nhấn mạnh đƣợc những thuận lợi, khó khăn khi bối cảnh, môi trƣờng kinh tế thay đổi sẽ ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến việc phát triển kinh doanh phái sinh tiền tệ.
Nhóm nghiên cứu khoa học Đại học Ngoại thƣơng Thành phố Hồ Chí Minh (2010), Giải pháp phát triển nghiệp vụ phái sinh tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam, công trình nghiên cứu khoa học. Đề tài này là đã hệ thống hoá những cơ sở lý luận về nghiệp vụ phái sinh nói chung; Các điều kiện để phát triển các nghiệp vụ này trong tƣơng lai; Chỉ ra những kinh nghiệm về phát triển phái sinh tại các nƣớc nhƣ Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc. Đề tài cũng đã khảo sát một số ngân hàng lớn tại Việt Nam và đƣa ra những giải pháp, kiến nghị vĩ mô. Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu Luan van 6 rộng, nên không đi sâu từng nghiệp vụ phái sinh cụ thể, chƣa chỉ ra đƣợc những rủi ngân hàng có thể gặp phải khi áp dụng trong thực tiễn.
Ngoài ra tôi cũng tìm đọc những quy trình nghiệp vụ nội bộ liên quan đến sản phẩm phái sinh hàng hoá của BIDV, các tài liệu qua các cuộc hội thảo chuyên đề giới thiệu sản phẩm do BIDV tổ chức hoặc BIDV là khách mời. Tóm lại, từ việc nghiên cứu những đề tài trên, tôi có thể học hỏi, hiểu sâu từng nghiệp vụ phái sinh cụ thể, qua đó góp phần bổ sung những hiểu biết cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài của mình. Đề tài “Phát triển kinh doanh dịch vụ trung gian phái sinh hàng hoá tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đaklak” có lẽ không phải là một đề tài hoàn toàn mới. Tuy nhiên có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau nên hầu nhƣ rất ít học viên chọn làm đề tài để nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực phái sinh hàng hoá.
Trên cơ sở những đề tài đã nêu, kế thừa những thành tựu đã đạt đƣợc, tôi mong muốn tiếp tục đóng góp những nét mới theo hƣớng phát triển kinh doanh dịch vụ trung gian phái sinh hàng hoá tại Ngân hàng thƣơng mại, mà cụ thể là tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đaklak ngày một hoàn thiện và phát triển hơn trong tƣơng lai. Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ TRUNG GIAN PHÁI SINH HÀNG HOÁ 1.1 SẢN PHẨM PHÁI SINH HÀNG HÓA 1. Lịch sử về các sản phẩm phái sinh Các sản phẩm phái sinh đã có lịch hàng trăm năm với nhiều sự thay đổi từ lúc bắt đầu hình thành cho đến ngày nay. Sản phẩm phái sinh đầu tiên bắt đầu từ việc giao dịch hoa tulip từ những năm 1630.
Vào cuối những năm 1630 cơn sốt về hoa tulip đã diễn ra tại nƣớc Anh và Hà Lan. Tại Hà Lan, các quyền chọn về hoa tulip đƣợc viết tại Amsterdam vào đầu những năm 1600 và tại Anh thì các hợp đồng kỳ hạn đƣợc diễn ra tại sàn giao dịch hoàng gia (Royal Exchange) vào những năm 1630. Một trong những giống hoa đặc biệt quý hiếm vào thời điểm đấy là giống hoa tulip Semper Augustus. Vào năm 1636 tại Hà Lan chỉ có duy nhất hai hạt giống của loại hoa này.
Các nhà đầu cơ vào thời điểm đấy đã định giá cho mỗi hạt giống này tƣơng đƣơng với giá trị của một cánh đồng có diện tích khoảng 12 mẫu Anh. Đến khoảng những năm 1650 thì hợp đồng tƣơng lai đầu tiên đƣợc thực hiện tại thị trƣờng gạo Yodoya tại Osaka, Nhật Bản. Các chủ đất, những ngƣời có quyền thu lúa gạo từ nông dân nhƣ là khoản địa tô đã nhận thấy rằng thời tiết và các điều kiện trồng trọt là rất khó để dự đoán trƣớc đƣợc. Vì thế các chủ đất đã chuyển những khối lƣợng lúa gạo thu đƣợc vào cất trữ trong các kho tại thành phố.
Sau đó họ bán những giấy chứng nhận của kho hàng để những ngƣời nẵm giữ chúng có mua một khối lƣợng gạo xác định theo tiêu chuẩn chất lƣợng của kho theo giá xác định trƣớc vào một ngày trong tƣơng lai. Các chủ đất nhận đƣợc nguồn thu nhập ổn định và các thƣơng gia có đƣợc một nguồn cung lúa gạo ổn định và có cơ hội kiếm lời từ việc bán các giấy chứng nhận của kho Luan van 8 hàng này. Cũng từ hình thức mua bán này, để phục vụ cho việc dự báo sự biến động giá cả lúa gạo một thƣơng gia thành công từ gia đình Honma tên là Munehisha đã có công rất lớn trong việc hình thành nên phƣơng pháp biểu diễn sự biến động giá cả theo đồ thị hình nến là cơ sở để hình thành nên phƣơng pháp phân tích kỹ thuật bằng đồ thị ngày nay. Đến những năm đầu 1800, các sản phẩm phái sinh về quyền chọn mua (call) và quyền chọn bán (put) các cổ phiếu đƣợc hình thành tại sàn giao dịch chứng khoán London ( London Stock Exchange).
Đến giai đoạn 1848-1900, các sản phẩm phái sinh bắt đầu xuất hiện tại Mỹ. Lịch sử của hợp đồng tƣơng lai hiện đại bắt đầu từ giữa thế kỷ 19 và sự phát triển của giao dịch ngũ cốc tại Chicago. Vào năm 1848 Hội đồng giao dịch Chicago (Chicago Board of Trade- CBOT) đƣợc thành lập để cung cấp nơi cho những ngƣời mua và ngƣời bán tiến hành trao đổi các loại hàng hóa. Hình thức giao dịch ban đầu chỉ là giao dịch giao ngay (spot) và sau đó là hình thức giao hàng trong tƣơng lai với việc một khối lƣợng hàng hóa nhất định sẽ đƣợc giao dịch với mức giá quyết định trƣớc và ngày giao hàng là trong tƣơng lai.
Hợp đồng kỳ hạn (Forward) đầu tiên đƣợc ghi nhận tại CBOT là vào ngày 13 tháng 3 năm 1851 với 3000 giạ ngô sẽ đƣợc giao nhận vào tháng 6. Một vấn đề đối với các hợp đồng kỳ hạn thời kỳ này là việc các hợp đồng này không có những tiêu chuẩn nhất định. Đến năm 1865 CBOT điều chỉnh lại hoạt động giao dịch ngũ cốc bằng cách giới thiệu loại hợp đồng gọi là hợp đồng tƣơng lai (Futures) với các tiêu chuẩn về: - Chất lƣợng của ngũ cốc - Khối lƣợng của ngũ cốc - Thời gian và địa điểm thực hiện việc giao hàng Giá của các hợp đồng tƣơng lai đƣợc phép thỏa thuận khi giao dịch trên sàn giao dịch. Đây là những hợp đồng tƣơng lai đầu tiên về ngũ cốc với nhiều Luan van 9 đặc điểm cơ bản để phát triển thành các loại hợp đồng tƣơng lai về tài chính và hàng hóa đang đƣợc sử dụng ngày nay.
Các hợp đồng quyền chọn về hàng hóa và chứng khoán đƣợc giao dịch trên sàn giao dịch Mỹ (US exchange) từ những năm 1860 và Hiệp hội các nhà giao dịch và môi giới về quyền chọn mua và quyền chọn bán (the Put and Call Brokers and Dealers Association) của Mỹ đƣợc thành lập từ đầu những năm 1900. Các hợp đồng tƣơng lai về tài chính bắt đầu đƣợc hình thành từ những năm 1970. Sau một thời gian dài khi các hợp đồng tƣơng lai và hợp đồng quyền chọn bị giám sát chặt chẽ và bị ngăn cấm bởi một vài quốc gia trên thế giới, sàn giao dịch thị trƣờng tiền tệ quốc tế (the International Monetary Market –IMM), một bộ phận của sở giao dịch Chicago (the Chicago Mercantile Exchange-CME) đƣợc thành lập 1972. Đây là sàn giao dịch đầu tiên thực hiện việc giao dịch các hợp đồng tƣơng lai về tài chính mà chủ yếu là các hợp đồng tƣơng lai về tiền tệ.
Cũng trong năm này CBOT đã bị từ chối không đƣợc cấp giấy phép để đƣợc phép giới thiệu hợp đồng tƣơng lai về cổ phiếu và nhƣng sau đấy đƣợc phép thành lập hội đồng giao dịch quyền chọn Chicago (the Chicago Board Options Exchange –CBOE) cho các giao dịch quyền chọn vào năm 1973. Đây cũng là năm mà Fischer Black và Myron Scholes phát minh ra phƣơng pháp tính giá quyền chọn.