CHƯƠNG I: CÁC DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 KHÁI NIỆM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ CÁC DỊCH VỤ CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Dịch vụ: Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Trong kinh tế học dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng phi vật chất (hay còn gọi là vô hình). Do tính đa dạng, phức tạp, vô hình (phi vật chất) của các loại hình dịch vụ nên việc thống nhất khái niệm về dịch vụ trở nên khó khăn, không chỉ ở nước ta mà cả trên thế giới, mỗi quốc gia đều có cách hiểu dịch vụ khác nhau. Theo từ điểm bách khoa Việt Nam: Dịch vụ là những hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt con người.
Khi nghiên cứu về dịch vụ, dựa trên những tính chất dịch vụ và đưa ra khái niệm: Dịch vụ là hoạt động mà con người thực hiện nhằm mục đích công việc mang lại kết quả của một sản phẩm hữu hình nhưng nó lại vô hình.2 Dịch vụ ngân hàng Hiện tại chưa có định nghĩa cụ thể về dịch vụ ngân hàng nhưng: Theo WTO: Dịch vụ ngân hàng là một bộ phận dịch vụ tài chính do đó khó phân tích rạch ròi giữa dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Theo Luật TCTD 2010 sửa đổi, không nêu dịch vụ Ngân hàng mà chỉ nêu hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.3 CÁC DỊCH VỤ CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (Phụ lục 1) 2 1.2 CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV 1.1 Khái niệm DNNVV Theo Nghị định số 56/2009/NĐ/CP của Chính phủ ngày 30 tháng 06 năm 2009 (thay thế nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001) về các chính sách và quản lý nhà nước về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tại Điều 3 của Nghị định này định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh, đã đăng ký kinh doanh theo qui định pháp luật, được chia thành 03 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa, theo qui mô tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bản cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.2 Đặc điểm DNNVV.
DNNVV tồn tại và phát triển hầu hết ở các ngành, lĩnh vực và chiếm tỉ lệ đa số trong tất các thành phần kinh tế. Doanh nghiệp có tính năng động cao trước sự biến đổi của thị trường. Bộ máy tổ chức quản lý thiết kế gọn nhẹ, dễ phát huy bản chất hợp tác. Nguồn vốn và nhân lực lao động ít, năng lực tài chính còn nhỏ bé.
Lãnh đạo DNNVV tương đối trẻ, có trình độ học vấn trung bình nhưng còn thiếu kinh nghiệm thương trường, thiếu tính chuyên nghiệp trong kinh doanh. Trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ còn thấp, nhiều DNNVV sản xuất thủ công hoặc sử dụng các thiết bị công nghệ cũ, chậm phát triển. Trình độ Marketing và bán hàng của các DNNVV còn hạn chế: chưa chủ động đưa ra chương trình Marketing cho hàng hóa. Thiếu thông tin về thị trường đầu vào: thị trường vốn, lao động, nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm.
3 Với những đặc điểm nêu trên, DNNVV cần sự hỗ trợ giúp đỡ sâu sát hơn của các cơ quan hữu quan như : Chính Phủ, TCTD, các định chế tài chính trung gian hỗ trợ về vốn, chính sách trợ giúp xúc tiến xuất khẩu, chính sách trợ giúp thông tin, kỹ thuật công nghệ, tư vấn, đào tạo và tạo nguồn nhân lực tốt… nhằm tạo thuận lợi cho các DNNVV phát huy tính chủ động sáng tạo nâng cao năng lực quản lý, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh; góp phần phát triển sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.3 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế nước ta hiện nay DNNVV có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Hiện nay các DNNVV này không chỉ ngày càng nhiều hơn lên về mặt số lượng mà còn cho thấy tính linh hoạt và hiệu quả kinh tế xã hội tổng thể ngày một cao. DNNVV đóng vai trò đặc biệt quan trọng vì nhiều lý do: tạo ra một khối lượng lớn hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế, tạo sự cạnh tranh lành mạnh, góp phần tập trung vốn của xã hội tạo ra những cơ sở vật chất ban đầu, thu hút lao động. Theo Bộ kế hoạch và Đầu tư, đến tháng 5 năm 2010 số lượng doanh nghiệp khoảng 496.101 doanh nghiệp, chiếm 97% tổng số doanh nghệp, đóng góp 40%GDP hàng năm và tạo việc làm trên 50,1% lao động trong doanh nghiệp.
Theo thống kê có hơn 39.000 Doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, trị giá xuất khẩu chiếm hơn 25% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Qua đó thể hiện sự đặc biệt quan trọng của các DNNVV như sau: Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp. Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng quốc gia và tạo việc làm là rất đáng ghi nhận. Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: Phần lớn nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn.
Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Do đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh hoạt động. 4 Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và công ăn việc làm ở địa phương.4 Đặc thù cung cấp dịch vụ ngân hàng đối với DNNVV Cung cấp dịch vụ Ngân hàng đối với DNNVV có ý nghĩa quan trọng trong việc cung ứng dịch vụ ngân hàng. Hiện tại các NHTM chưa có dịch vụ ngân hàng đặc thù cung cấp đối với DNNVV, chủ yếu cung cấp là các dịch vụ truyền thống và một số dịch vụ ngân hàng hiện đại (directbanking, homebanking, BSMS, thẻ.5 Sự khác biệt cung cấp dịch vụ ngân hàng BIDV đối với DNNVV so với DN lớn và DNNVV của các NHTM khác + Đối với Doanh nghiệp lớn: Hiện tại BIDV cung cấp dịch vụ ngân hàng đối với DNNVV chủ yếu cung cấp là các dịch vụ truyền thống. Tuy nhiên trong dịch vụ cấp tín dụng có qui trình xếp hạng tín dụng nội bộ riêng cho DNNVV và áp dụng lãi suất vay thấp hơn so với các DN lớn. + Đối với DNNVV của các NHTM khác: BIDV ngoài việc đẩy mạnh cung cấp dịch vụ ngân hàng truyền thống còn cung cấp dịch vụ ngân hàng hiện đại cho các DNNVV xuất khẩu, công nghiệp chế biến, xây lắp như dịch vụ: hoán đổi tiền tệ chéo, hoán đổi lãi suất, phát hành trái phiếu doanh nghiệp với mức lãi suất cạnh tranh… 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ ngân hàng BIDV nói chung và DNNVV nói riêng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ ngân hàng nói chung như: Môi trường pháp lý và các chính sách về dịch vụ ngân hàng của nhà nước; tình hình tài chính, cơ cấu mô hình tổ chức và năng lực quản trị, điều hành, nguồn nhân lực, 5 công nghệ ngân hàng, lãi suất và phí dịch vụ, tiếp thị, quảng bá dịch vụ ngân hàng, mạng lưới giao dịch của BIDV phải đáp yêu cầu phát triển dịch vụ ngân hàng. Ngoài các yếu tố ảnh hưởng chung đến phát triển dịch vụ ngân hàng còn các yếu tố ảnh hưởng riêng đến phát triển dịch vụ ngân hàng đến với DNNVV như: Tình hình tài chính, các báo cáo tài chính và tài sản đảm bảo của DNNVV và chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng; biểu phí áp dụng đối với DNNVV phù hợp.3 SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Đối với ngân hàng thương mại - Thứ nhất, nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng. Phát triển các dịch vụ ngân hàng nghĩa là ngân hàng tạo ra các dịch vụ mới trên cơ sở tận dụng được tối đa nguồn lực hiện có nhằm tối thiểu hóa rủi ro, mở rộng cơ hội kinh doanh và tăng ưu thế trong cạnh tranh. Hơn nữa phát triển các dịch vụ mới như: thẻ thanh toán, dịch vụ ngân hàng tại nhà (home banking), BSMS, thu chi hộ, các thị trường phái sinh, hoán đổi tiền tệ chéo… Tuy không mang lại thu nhập chính như hoạt động tín dụng – đầu tư nhưng nếu ngân hàng cung ứng các dịch vụ phong phú đa dạng đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của khách hàng nhằm thu hút khách hàng đến với ngân hàng từ đó sẽ tạo được vị thế, niềm tin, nâng cao thương hiệu của mình trên thị trường.
- Thứ hai, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng và phong phú. Phát triển các dịch vụ, theo đó ngân hàng mở rộng hoạt động thị trường, phân khúc thị trường, mở rộng qui mô và nâng cao chất lượng của từng loại dịch vụ, đa dạng hóa dịch vụ nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ngày càng gia tăng cũng như việc thu hút khách hàng đến với ngân hàng trong điều kiện hội nhập như hiện nay. - Thứ ba, góp phần chuyển dịch cơ cấu thu nhập của NHTM.