CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ UẬN PHÁT TRIỂN CH Ụ HẺ TẠI NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về ịch vụ th của ng n h ng thương ại 1. Thẻ ngân hàng là gì? Thẻ ngân hàng là một loại thẻ được phát hành bởi các ngân hàng và các công ty tài chính, là công cụ thanh toán được tích hợp nhiều tính năng gồm chuyển tiền, rút tiền, thanh toán hóa đơn, tiết kiệm và thực hiện các giao dịch liên kết với các ứng dụng điện tử. Khách hàng có thể dùng thẻ ngân hàng thực hiện các giao dịch thanh toán khi mua hàng mà không cần dùng tiền m t Về hình thức của thẻ, các loại thẻ ngân hàng thường được làm từ chất liệu nhựa, hình chữ nhật thường có kích thước chu n là chiều dài: 85.37 Inch) và chiều rộng: 53.
Trên thẻ thường có các thông tin: - Tên tổ chức phát hành thẻ ngân hàng - Tên loại thẻ - Họ và tên chủ thẻ - Số thẻ ngân hang - Hiệu lực thẻ - …. Dịch vụ là gì? Theo Philip otler: Dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thể ho c không cần gắn liền với một sản ph m vật chất nào.
Dịch vụ thẻ ngân hàng là gì? Dịch vụ thẻ ngân hàng là toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng, gồm các nghiệp vụ phát hành thẻ, thanh toán thẻ,… nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng vì mục tiêu lợi nhuận. Đặc điểm của dịch vụ thẻ ngân hàng a. Tính vô hình (Intangible). 7 Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một cách cụ thể như đối với các sản ph m vật chất hữu hình.
Do tính chất vô hình, dịch vụ không có mẫu và cũng không có d ng thử như sản ph m vật chất. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất. Do đ c tính vô hình nên trong kinh doanh ngân hàng phải dựa trên cơ sở niềm tin. Để tăng l ng tin của khách hàng, ngân hàng phải nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng, tăng tính hữu hình của sản ph m, khuyếch trương hình ảnh, uy tín tạo điều kiện cho khách hàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho ngân hàng.
Tính không đồng nhất (Heterogeneous). Đ c tính này c n được gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, l nh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ.Tính không đồng nhất về chất lượng dịch vụ bị ảnh hưởng bởi việc nhà cung cấp dịch vụ sử dụng nhiều nhân lực ho c máy móc trong quá trình cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Hầu hết khách hàng trước đây đều giao tiếp trực diện với nhân viên giao dịch quầy trong các chi nhánh.
Tuy nhiên, ngày nay với sự xuất hiện ngày càng nhiều công nghệ mới đã cho ph p các dịch vụ có thể phụ thuộc nhiều hơn vào máy móc và cho ph p các ngân hàng cung cấp các dịch vụ có tính chu n hóa hơn thông qua việc sử dụng máy ATM, dịch vụ ngân hàng điện tử và các dịch vụ trực tuyến khác. Tính không thể tách rời (Inseparable). Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Sự tạo thành và sử dụng dịch vụ thông thường di n ra đồng thời cùng lúc với nhau.
Nếu hàng hóa thường được sản xuất, lưu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến người tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra nó. Do đó dịch vụ trở thành một hành động xảy ra cùng lúc với sự hợp tác giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp – ngân hàng và các định chế tài chính khác d. Tính không thể cất trữ (Unstored). 8 Dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác.
Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc tái sử dụng hay phục hồi lại. Chính vì vậy, dịch vụ là sản ph m được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. Phân loại thẻ ngân hàng. Có 3 loại thẻ ngân hàng chính: Thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và thẻ trả trước với tính năng sử dụng và đ c điểm hoàn toàn khác nhau.
Cả 3 thẻ này đều là thẻ thanh toán, hay thẻ vật lý. Một số ngân hàng còn phát hành thẻ ảo (thẻ phi vật lý) chỉ sử dụng online như thanh toán trực tuyến mà không biểu hiện dưới hạng thẻ vật lý: Thẻ tín dụng (Credit card): Thẻ tín dụng là một công cụ thanh toán không dùng tiền m t, cho phép chủ thẻ này "chi tiêu trước, trả tiền sau". Ngân hàng sẽ cung cấp một hạn mức chi tiêu cho khách hàng sử dụng hạn mức đó để thanh toán các hóa đơn hàng hóa tại các điểm máy POS ho c mua hàng online. Thẻ trả trước (Prepaid card): Khách hàng không cần mở tài khoản ngân hàng để làm thẻ trả trước, thậm chí có thể mua thẻ này tại chi nhánh mà không cần có CMND.
Khách hàng chỉ cần nạp tiền vào thẻ này và chi tiêu, số tiền trong thẻ cũng chính là giới hạn chi tiêu; do đó thẻ được ví như S M điện thoại.Thẻ trả trước được chia thành thẻ định danh và thẻ không định danh.Trong đó thẻ định danh có đầy đủ thông tin của chủ thẻ và có thể rút tiền m t tại ATM, thẻ không định danh không thể rút tiền tại TM nhưng khách có thể mua thẻ mà không cần CMND. Thẻ ghi nợ (Debit card):Thẻ ghi nợ do ngân hàng cung cấp kèm theo khi mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, cho phép chủ thẻ sử dụng số tiền họ có trong tài khoản. Khách hàng có thể thanh toán, chuyển khoản, rút tiền m t tại ATM hay thực hiện những giao dịch khác trong phạm vi số tiền của mình. Phân loại dịch vụ thẻ ngân hàng.
Dịch vụ phát hành thẻ: Nghiệp vụ phát hành thẻ là nghiệp vụ phát sinh đầu tiên trong dịch vụ thẻ tại ngân hàng. Về cơ bản, dịch vụ phát hành thẻ bao gồm việc quản l và triển khai toàn bộ quy trình phát hành thẻ, sử dụng thẻ, thu nợ từ khách hàng. 9 Dịch vụ thanh toán thẻ: Sau khi được phát hành thẻ, chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để chi tiêu, thanh toán ho c rút tiền m t. Mỗi khi đến một cơ sở kinh doanh hàng hóa có khả năng chấp nhận thanh toán thẻ - đơn vị chấp nhận thẻ, sau khi thỏa thuận giá cả xong, chủ thẻ đưa thẻ cho người bán hàng để thực hiện việc thanh toán.
Dịch vụ khác: Bên cạnh những dịch vụ chính nhằm đem lại lợi nhuận cho ngân hàng thì ngân hàng cũng cung cấp thêm các dịch vụ khác như: Dịch vụ chăm sóc khách hàng, dịch vụ tư vấn,… 1. Vai trò của thẻ ngân hàng. Đối với chủ thẻ. Thuận tiện thanh toán trong nước và quốc tế: Thẻ ngân hàng cho phép chủ thẻ mua hàng hóa dịch vụ thông qua mạng lưới rộng rãi các điểm chấp nhận thẻ, hay rút tiền m t khi cần thiết và thực hiện các dịch vụ khác như vấn tin tài khoản, chuyển khoản…tại các máy ATM ở khắp nơi mà không bị hạn chế về thời gian giao dịch.
An toàn: X t trên giác độ bảo mật, thẻ ngân hàng là phương tiện giao dịch thuận lợi và an toàn. Chủ thẻ là người duy nhất nắm giữ mã số có quyền sử dụng thẻ vì vậy chống việc làm giả ngăn ch n người khác sử dụng. Bên cạnh đó thẻ ngân hàng luôn được ứng dụng sản xuất dựa trên kỹ thuật công nghệ cao, tạo nên những chiếc thẻ thông minh với độ an toàn ngày càng được nâng cao. Gọn nhẹ, nhanh chóng và hiệu quả: Khi mua sắm hàng hóa, dịch vụ người tiêu dùng không phải mang theo tiền m t, không phải mất thời gian kiểm đếm tiền bởi đã có những chiếc thẻ với kích thước gọn nhẹ d dàng mang theo người, tạo cảm giác thỏa mái khi đi mua sắm thậm chí với khối lượng trả lớn.
Văn minh và hiện đại: Thanh toán bằng thẻ tạo thêm vẻ văn minh lịch sự, sang trọng cho khách hàng khi thanh toán. Thanh toán bằng thẻ dường như trở thành một thứ mốt, một phong cách sống. Điều này có thể không mấy ngh a với những người thực sự am hiểu về kinh tế nhưng đối với cộng đồng khách hàng, nó lại là một sức mạnh tâm lý không nhỏ. M t khác giúp khách hàng tiếp cận phương thức mua hàng gián tiếp hiện nay như đ t hàng qua điện thoại, mua hàng qua mạng… b.
Đối với đơn vị chấp nhận thẻ. Tăng doanh số bán và thu hút khách hàng: thiết lập được mối quan hệ mật thiết với ngân hàng và khách hàng cho những giao dịch sau này sẽ được ưu đãi hơn. 10 Đảm bảo khả năng chi trả, tăng quay v ng vốn và hiệu quả kinh tế. Tiết kiệm và đảm bảo an toàn: Tiết kiệm được thời gian và công sức cho việc kiểm đếm, phân loại, lưu trữ và vận chuyển tiền m t.
Tiền thanh toán sẽ được ghi có vào tài khoản của ĐVCNT ngay khi ngân hàng nhận được chứng từ ho c giao dịch tại ĐVCNT được gửi về ngân hàng. Tránh được việc nhầm lẫn trong kiểm đếm tiền, phân biệt tiền thật tiền giả và minh bạch hơn trong các giao dịch tài chính.