CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT. Khái niệm và nguyên tắc cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt. Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt Theo TS.Trịnh Thị Hoa Mai, Giáo trình Kinh tế học tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Đại học Quốc gia: Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả vào tài khoản của người thụ hưởng bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ở đây là các ngân hàng thương mại.
Tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán là các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân trong nền kinh tế có nhu cầu sử dụng dịch vụ TT để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ thương mại. Các phương tiện TT sử dụng là séc, thẻ, UNT, UNC, TTD. Hoạt động TT qua ngân hàng được tiến hành thông qua các kênh TT như: TT qua NHNN, qua hệ thống TT bù trừ giữa các ngân hàng, qua hệ thống TT điện tử, qua mạng Swift. Các nguyên tắc cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt.
Thứ nhất: Các chủ thể tham gia TT đều phải mở TK tại NH và được quyền lựa chọn NH để mở TK. Khi tiến hành TT phải thực hiện TT thông qua TK đã mở theo đúng chế độ quy định và phải trả phí TT theo quy định của NH. Trường hợp đồng tiền TT là ngoại tệ thì phải tuân thủ quy chế quản lý ngoại hối của NHNN. Thứ hai: Đối với người mua, số tiền TT giữa người chi trả và người thụ hưởng phải dựa trên cơ sở lượng hàng hoá, dịch vụ đã giao.
Người mua phải chuẩn bị đầy đủ phương tiện TT (số dư trên TK tiền gửi TT tại NH hoặc hạn mức thấu chi nếu có) để đáp ứng yêu cầu TT đầy đủ, kịp thời khi xuất hiện yêu cầu TT. Nếu người mua chậm trễ trong TT hoặc vi phạm chê độ TT thì sẽ bị phạt. Thứ ba: Đối với người bán, là người được hưởng số tiền từ người chi trả và được chuyển vào tài khoản của mình nên phải có trách nhiệm giao hàng cung cấp 5 dịch vụ kịp thời, đầy đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng. Đồng thời phải kiểm soát kỹ lưỡng các chứng từ phát sinh trong quá trình TT.
Thứ tư: Đối với ngân hàng, là trung gian TT giữa người mua và người bán, ngân hàng phải thực hiện đúng vai trò của mình là trung gian TT, đó là: - Chỉ trích từ tài khoản tiền gửi của người chi trả vào tài khoản của người thụ hưởng khi có lệnh của người chi trả, hoặc trường hợp không có lệnh của người chi trả khi TT UNT hay lệnh của toà án kinh tế. - Phải có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ khách hàng mở TK, sử dụng các công cụ TT phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, phương thức giao nhận và vận chuyển hàng hoá.Cung cấp đầy đủ các chứng từ sử dụng trong TT cho khách hàng. - Tổ chức hạch toán, chuyển chứng từ TT một cách nhanh chóng chính xác an toàn, nếu để chậm trễ hay hạch toán thiếu chính xác gây thiệt hại cho khách hàng thì phải bồi thường cho họ theo quy chế tài chung. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế * Đối với nền kinh tế.
- TTKDTM góp phần làm giảm tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, góp phần kìm hãm và đẩy lùi lạm phát, nâng cao năng lực điều hành CSTT của NHNN. Tiết kiệm chi phí lưu thông, in ấn, bảo quản, kiểm đếm, vận chuyển, phát hành tiền… đồng thời hạn chế rủi ro mất cắp, tiền giả tiền xấu, thiệt hại do cháy nổ… đảm bảo “huyết mạch” lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế. - TTKDTM tập trung được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội vào Ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tái đầu tư kinh tế, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn kinh doanh đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục. - Một ý nghĩa quan trọng là việc phát triển dịch vụ TTKDTM góp phần cải thiện môi trường văn minh thương mại; đặc biệt với thẻ TT vì TT qua thẻ tạo điều kiện thu hút khách du lịch nước ngoài và đầu tư nước ngoài.
* Đối với khách hàng 6 Dịch vụ TTKDTM góp phần đẩy nhanh tốc độ TT, tốc độ chu chuyển vốn và quá trình tái sản xuất trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác, khách hàng còn được hưởng các ưu đãi về thuế như giảm thuế thu nhập đối với khách hàng mở TK tại ngân hàng, hay được hưởng chiết khấu khi TT bằng thẻ ghi nợ hoặc thẻ tín dụng nội địa tại các cơ sở chấp nhận thẻ. Việc TT được tiến hành bằng phương pháp ghi chuyển từ TK này sang TK khác nên đảm bảo sự an toàn về vốn cũng như tài sản của DN, tránh được những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra trong TT. * Đối với bản thân Ngân Hàng Thương Mại - TTKDTM giúp các NHTM thực hiện tốt chức năng tạo tiền.
Ngân hàng sẽ huy động được một lượng vốn lớn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế với chi phí thấp có thể mở rộng hoạt động cho vay, tăng thu nhập cho NH. - TTKDTM giúp các NH đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân; giúp các NHTM hạn chế rủi ro trong kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tín dụng. - TTKDTM giúp NHTM mở rộng được đối tượng và phạm vi TT. Với độ an toàn, hiệu quả, chính xác, tin cậy và tiết kiệm thời gian chi phí đã thu hút các tổ chức, cá nhân tham gia TT qua NH làm tăng lợi nhuận, năng lực cạnh tranh của NH.
Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Theo các văn bản pháp quy thì hiện nay có 5 hình thức TTKDTM được sử dụng để TT giữa các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế đó là: Séc TT, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi - chuyển tiền, thẻ TT, thư tín dụng nội địa (rất ít sử dụng). Thanh toán bằng séc. Séc (check, chè que) là lệnh thanh toán do người chủ tài khoản trên séc theo mẫu in sẵn, yêu cầu đơn vị thanh toán trích số tiền nhất định trong tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng có ghi danh trong tờ séc hoặc cho người cầm séc (đối với séc có thể chuyển nhượng được) Dựa vào tính hữu dụng thì người ta sử dụng nhiều nhất là séc chuyển khoản và séc bảo chi. 7 Séc chuyển khoản Là loại séc mà người kí phát séc ra lệnh cho NH trích tiền từ tài khoản của mình để chuyển sang một tài khoản khác.
Séc chuyển khoản có giá trị TT trực tiếp như tiền tệ nhưng không thể dùng để lĩnh tiền mặt và không thể chuyển nhượng. Phạm vi TT: Khách hàng có TK tại cùng một NH, khách hàng có TK tại hai NH khác nhau nhưng có tham gia TTBT và giao nhận chứng từ trực tiếp hàng ngày. Trên tờ séc nếu có ghi cụm từ “trả vào TK” thì séc được TT chuyển khoản bằng cách trích tiền từ TK người ký phát chuyển vào TK người thụ hưởng. Sơ đồ quy trình luân chuyển của séc chuyển khoản (Nguồn: TS.Trịnh Thị Hoa Mai, Giáo trình Kinh tế học tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Đại học Quốc gia) Chú thích: (1) Đơn vị bán giao hàng cho đơn vị mua (2) Đơn vị mua ký phát séc đơn vị bán (3) Đơn vị bán nộp séc và ba bảng kê nộp séc vào NH của đơn vị bán.
(4) NH của đơn vị bán chuyển hai liên của bảng kê nộp séc cùng tờ séc cho NH của đơn vị mua. (5) NH của đơn vị mua lập bảng kê chứng từ thanh toán bù trừ, gửi một liên bảng kê chứng từ TTBT và bảng kê nộp séc cho NH của đơn vị bán. (6) NH của đơn vị bán báo có cho đơn vị bán một liên bảng kê nộp séc sau khi ghi có vào TK tiền gửi. 8 (7) NH của đơn vị mua báo nợ bằng bản so số phụ cho đơn vị mua.
Ưu nhược điểm của hình thức TT séc chuyển khoản: -Ưu điểm: Đơn vị phát hành séc không phải thông qua NH phát hành séc, như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho bên mua vì bên mua chủ động được trong khi mua và không làm ứ đọng vốn của người mua. - Nhược điểm: Phạm vi TT hẹp, chỉ dùng TT trong cùng một hệ thống NH hoặc TT giữa hai NH cùng tỉnh, thành phố có tham gia TTBT và giao nhận trực tiếp. Bên cạnh đó, do người phát hành séc không phải qua NH để phát hành nên dễ xảy ra tình trạng phát hành quá số dư, từ đó gây ra tình trạng ứ đọng vốn, xảy ra tranh chấp trong TT, tốc độ thu hồi vốn của người bán chậm. Séc bảo chi Séc bảo chi do chủ TK phát hành được NH hoặc kho bạc đảm bảo thanh toán.
Người phát hành séc phải lưu ký trước số tiền ghi trên tờ séc vào một TK riêng để NH làm thủ tục bảo chi trước khi giao hàng. Do vậy, khả năng TT của séc bảo chi được đảm bảo không xảy ra tình trạng phát hành quá số dư. Séc bảo chi chỉ được áp dụng trong trường hợp bên bán không tín nhiệm đối với bên mua hoặc người sử dụng séc vi phạm quy định TT nên NH bắt buộc sử dụng séc bảo chi. Phạm vi TT: séc bảo chi TT trong phạm vi các NH cùng hệ thống, khác địa bàn, các NH khác hệ thống.Thời hạn TT của séc bảo chi là 30 ngày kể từ ngày bảo chi séc.
Quy trình luân chuyển chứng từ của séc bảo chi 9 (Nguồn: TS.Trịnh Thị Hoa Mai, Giáo trình Kinh tế học tiền tệ ngân hàng (2005), Nxb Đại học Quốc gia) (1) Bên mua nộp giấy xin bảo chi séc kèm theo tờ séc chuyển khoản cho NH phục vụ mình. (2) NH TT lưu ký tiền và giao séc bảo chi cho bên mua. (3) Bên mua giao tờ séc đã bảo chi cho bên bán. (4) Bên bán giao hàng cho bên mua.
(5) Bên bán nộp bảng kê nộp séc kèm tờ bảo chi cho NH phục vụ mình. (6a,6b) NH phục vụ đơn vị bán báo Nợ cho NH phục vụ đơn vị mua và ghi Có cho bên bán. Ưu, nhược điểm của hình thức TT séc bảo chi: + Ưu điểm: Séc bảo chi có độ rủi ro thấp, được ghi có ngay cho người bán.