Chương 1: Lý luận chung về phát triển dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế của doanh nghiệp Logistics. Thực trạng phát triển dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế của Công ty Cổ phần Kho vận Việt Nam giai đoạn 2010-2013 Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế của Công ty Cổ phần Kho vận Việt Nam đến năm 2020. 6 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP LOGISTICS. Khái quát chung về dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế.
Khái niệm dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế Khái niệm giao nhận hàng hóa Theo từ điển Tiếng Việt, giao nhận hàng hóa là giao và nhận hàng hoá, tài sản giữa hai bên tại trạm giao nhận hàng hoá; giao nhận hàng hoá xong phải viết phiếu. Theo đó, giao nhận gắn liền và song hành với quá trình vận tải để hoàn thành chức năng đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nới tiêu thụ, hoàn thành mặt thứ hai của lưu thông phân phối. Thông qua giao nhận các tác nghiệp vận tải được tiến hành: tập kết hàng hóa, xếp dỡ, lưu kho, chuyển tải, đóng gói, thủ tục, chứng từ… Khái niệm dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế Nghề giao nhận trên thế giới đã ra đời cách đây khoảng 500 năm. Năm 1552, hãng VANSAI đã ra đời ở BADILAY, Thuỵ Sĩ làm công việc giao nhận và kiêm cả việc vận tải hàng hoá.
Nhưng khái niệm về dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế ngày nay sử dụng nhiều theo quan điểm của Hiệp hội Giao nhận kho vận Quốc tế (FIATA). Quan điểm 1(FIATA): Dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan quan tới gom hàng, vận chuyển, lưu kho, bốc xếp, đóng gói, hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn có liên quan đến các dịch vụ kể trên, thông thường là các dịch vụ về hải quan, bảo hiểm, tài chính, thanh toán và các chứng từ có liên quan đến hàng hóa. Dịch vụ này ra đời muộn và còn non trẻ ở Việt Nam. Định nghĩa về dịch vụ giao nhận được thừa nhận và biết đến lần đầu tiên trong Luật Thương mại 1997 Quan điểm 2 (Theo Điều 163, Luật Thương mại Việt Nam, 1997): Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng 7 hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng).
Về nội dung các hoạt động của dịch vụ này theo hai quan điểm trên là không khác nhau, đó là tất cả các dịch vụ liên quan đến quá trình giao nhận hàng hóa bao gồm cả các hoạt động trực tiếp như kho bãi, bốc xếp, đóng gói đến các hoạt động không trực tiếp tác động vào hàng hóa như chuẩn bị chứng từ liên quan đến hàng hóa, lo liệu bảo hiểm, thông quan hải quan, giấy chứng nhận xuất xứ… Hiện nay, các nhà giao nhận Việt Nam đã đảm nhận nhiều công việc khác có liên quan đến đóng gói, phân phối và vận tải đa phương thức phù hợp với xu thế chung của quốc tế. Việt Nam đã ban hành Luật Thương mại 2005 trong đó quy định rõ trách nhiệm của các bên trong hoạt động dịch vụ logistics và hoạt động giao nhận là một phần của hoạt động logistics. Điều 233, Luật Thương mại 2005 ghi rõ: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Trong phạm vi luận văn này, dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế ( DV GNHHQT) được hiểu là tập hợp tất cả các dịch vụ khác nhau có liên quan đến quá trình vận chuyển hàng hóa từ nơi giao hàng đến nơi nhận hàng trên phạm vi các quốc gia khác nhau, từ khi hình thành hàng hóa đến khi kết thúc mọi thủ tục với các bên liên quan.
Trước kia, việc giao nhận có thể do người gửi hàng (nhà xuất khẩu), người nhận hàng (nhà nhập khẩu) hay do người chuyên chở đảm nhiệm và tiến hành. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của buôn bán quốc tế phân công lao động quốc tế với mức độ và qui mô chuyên môn hoá ngày càng cao, giao nhận cũng dần dần được 8 chuyên môn hóa, do các tổ chức, các ngiệp đoàn giao nhận chuyên nghiệp tiến hành và giao nhận đã chính thức trở thành một Nghề. Tất cả những cá nhân, tổ chức kinh doanh, môi giới dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế được gọi là người giao nhận (Forwader, Forwarding). Người giao nhận là người thực hiện các dịch vụ giao nhận theo sự uỷ thác của khách hàng hoặc người chuyên chở.
Người giao nhận có thể là chủ hàng (khi cá nhân đó tự đứng ra thực hiện các công việc giao nhận cho hàng hoá của mình), là chủ tàu (khi chủ tàu thay mặt người chủ hàng thực hiện các dịch vụ giao nhận), công ty xếp dỡ hay kho hàng hoặc người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ một người nào khác thực hiện dịch vụ đó. Người giao nhận là người lo toan để hàng hoá được chuyên chở theo hợp đồng uỷ thác và hành động vì lợi ích của người uỷ thác mà bản thân anh ta không phải là người chuyên chở. Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hoá … 1. Các loại hình dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế (1) Căn cứ theo phương thức vận tải - Phương thức giao nhận hàng hóa vận chuyển bằng đường biển - Phương thức giao nhận hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không.
- Phương thức giao nhận hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ - Phương thức giao nhận hàng hóa vận chuyển bằng đường sắt - Phương thức giao nhận hàng hóa vận chuyển bằng đường ống - Giao nhận hàng hóa đa phương thức (2) Căn cứ theo hình thức kinh doanh giao nhận - Giao nhận hàng hóa nguyên container (FCL/FCL) - Giao nhận hàng lẻ (LCL/LCL) - Giao nhận hàng kết hợp ( FCL/LCL , LCL/FCL) (3) Căn cứ theo chủ thể khách hàng trong hợp đồng mua bán. -Loại hình dịch vụ thay mặt người gửi hàng – người xuất khẩu 9 + Chọn tuyến đường, phương thức vận tải và người chuyên chở (nếu người gửi hàng là người trả cước) + Nhận hàng và cung cấp những chứng từ thích hợp, như: Giấy chứng nhận chuyên chở, … + Đóng gói hàng hóa + Tổ chức lưu kho hàng hóa (nếu cần) + Cân đo hàng hóa + Mua bảo hiểm cho hàng hóa (nếu người gửi yêu cầu) + Thực hiện khai báo hải quan, các chứng từ liên quan phục vụ việc thông quan hàng hóa. + Vận tải hàng hóa đến nơi giao hàng, được xác định dựa theo điều kiện giao hàng của hợp đồng mua bán (CIF, DDU…) + Hoàn thiện các chứng từ và báo cáo cho các bên liên quan. + Thanh toán phí và các chi phí khác.
- Loại hình dịch vụ thay mặt người nhận hàng – người nhập khẩu + Chọn tuyến đường, phương thức vận tải và người chuyên chở (nếu người nhận hàng là người trả cước) + Thay mặt ngưởi nhận hàng giám sát nghĩa vụ giao hàng của người bán. + Nhận và kiểm tra tất cả những chứng từ liên quan đến hàng hóa và việc vận chuyển hàng hóa. + Thu xếp việc khai báo hải quan và trả các phí, thuế hay những chi phí khác. + Nhận hàng từ nơi địa điểm giao hàng (dựa theo điều kiện giao hàng) và bố trí vận chuyển đến người nhận.
+ Thực hiện các giao dịch ngoại hối (nếu cần) + Thu xếp lưu kho, quá cảnh nếu cần + Hoàn thiện các chứng từ và báo cáo cho các bên liên quan Ngoài những căn cứ phân loại dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế kể trên, còn một số cách phân loại khác như: căn cứ theo tính chất hàng hóa (hàng dự án, hàng triển lãm,…) hay theo các yêu cầu đặc biệt của khách hàng… 10 1. Phát triển dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế của doanh nghiệp logistics. Khái niệm Phát triển không chỉ đơn thuần là tăng lên hay giảm đi về lượng mà còn có sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng. Phát triển là sự biến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra.
Với chủ thể nghiên cứu ở đây là dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế, đây là một sản phẩm dịch vụ nên nó vô hình, khó đong đếm. Vì vậy, phát triển dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế phải xem xét đồng thời sự biến đổi theo chiều hướng tăng cả về lượng và chất. Và được định nghĩa như sau: Phát triển dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế của doanh nghiệp logistics là sự mở rộng dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế của doanh nghiệp cả về chiều rộng (số lượng) và chiều sâu (chất lượng). Phát triển về chiều rộng đồng nghĩa với việc đa dạng hóa các loại hình dịch vụ.
Không chỉ duy trì các hoạt động truyền thống mà phải tiếp cận và phát triển các loại hình dịch vụ GNHHQT đa dạng, hiện đại. Dưới góc độ vĩ mô, phát triển dịch vụ GNHHQT theo chiều rộng là phát triển mới các loại hình dịch vụ, đề xuất mới các dịch vụ hiện đại, hiệu quả hơn. Dưới góc độ doanh nghiệp logistics, phát triển về chiều rộng là mở thêm các dịch vụ mà công ty có thể cung cấp từ ít đến nhiều, từ đơn lẻ đến đa dạng, trọn gói… trên cở sở các dịch vụ đã có trong ngành nhưng trước đó công ty chưa có điều kiện thực hiện cung cấp dịch vụ đó hoặc công ty đi đầu, đề xuất dịch vụ mới. Nói đến chất lượng dịch vụ GNHHQT là chúng ta đề cập đến tính tiện ích của nó.
Song song với quá trình phát triển DV GNHHQT theo quy mô, chất lượng DV GNHHQT không ngừng tăng lên, giúp cho khách hàng ngày càng hài lòng hơn.