CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, các môn khoa học nghiên cứu trên một đối tượng cụ thể, một lĩnh vực cụ thể của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Sang thế kỷ XX đã xuất hiện những khoa học liên ngành, hình thành nên những lĩnh vực mới như Hóa – Sinh, Lí – Sinh, Công nghệ - Sinh học.
Điều này phù hợp với bản chất của thế giới vốn bao gồm nhiều mối quan hệ đan xen, tác động lẫn nhau. Trong xu thế đó, một môn khoa học không thể phát triển độc lập mà cần phải có sự kết nối với các khoa học khác, các khoa học phải phối hợp với nhau để cùng phát triển và phục vụ con người. Cách tiếp cận tích hợp trong xây dựng chương trình giáo dục bắt đầu được đề cao ở Mỹ, Anh, Nga, Đức, Pháp…từ những năm 1960, ban đầu được áp dụng ở các trường trung học nghề, cao đẳng, đại học, dần dần, chương trình tích hợp được chuyển xuống các bậc học thấp hơn. Nhiều hội nghị quốc tế đã được tổ chức để bàn luận, đúc kết kinh nghiệm, đề xuất phương hướng mới nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học, đào tạo ra đội ngũ lao động đáp ứng được các yêu cầu của xã hội hiện tại và tương lai.
Tháng 9/1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học” đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học đã tổ chức tại Varna (Bungari) [12, tr.8], hội nghị nêu ra hai vấn đề là vì sao phải dạy học tích hợp và tích hợp các khoa học là gì. Theo đó, dạy học tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở học sinh những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội. 6 Luan van Quá trình dạy học tích hợp bao gồm những hoạt động tích hợp giúp học sinh biết cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác một cách có hệ thống. Tháng 4/1973, UNESCO tổ chức Hội nghị đào tạo giáo viên để DHTH các khoa học tại Maryland [12, tr.8], một trong những bài học cơ bản của giáo dục các khoa học là phải chỉ ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hiểu biết và hành động.
Dạy học tích hợp các khoa học nghĩa là phải chỉ ra cách thức chuyển từ nghiên cứu khoa học sang triển khai ứng dụng, làm cho các tri thức kĩ thuật - công nghệ trở thành một bộ phận quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại. Rất tiếc là hiện nay trong giáo dục phổ thông người ta thường tách khoa học và công nghệ, coi trọng khoa học, xem nhẹ công nghệ. Hay nói khác đi, một cách gần gũi hơn đó là nền giáo dục của ta hiện nay còn coi trọng lý thuyết, xem nhẹ thực hành. Hội thảo quốc tế đón chào thế kỷ XXI có tên “Kết nối hệ thống tri thức trong một thế giới học tập” với sự tham gia của gần 400 nhà giáo dục thuộc 18 quốc gia được tổ chức từ ngày 6 - 8/12/2000 tại Manila (Philippines) [14], một trong những nội dung chính được bàn luận sôi nổi tại hội thảo này là những con đường và cách thức kết nối hệ thống tri thức hướng vào người học trong thời đại thông tin.
Muốn đáp ứng được nhu cầu kết nối hệ thống tri thức trong một thế giới học tập, đòi hỏi tư duy liên hội được thiết kế ngay trong nội dung, phương tiện nghiên cứu và phương pháp giảng dạy. Như thế, khi đứng trước nhu cầu giải quyết mâu thuẫn kiến thức của tình huống học tập, người học không chỉ giải quyết theo hướng trực tuyến hay nội suy mà có thể còn giải quyết bằng cách ứng dụng một cách linh hoạt khả năng liên hội kiến thức. Trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nghiên cứu về quan điểm tích hợp, tiêu biểu là Xavier Rogiers. Theo ông [17, tr.73], lý thuyết tích hợp được ứng dụng vào giáo dục và trở thành một quan điểm lý luận dạy học phổ biến trên thế giới hiện nay, trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc nhằm hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động.
Chương trình giáo dục tích hợp được xây dựng dựa trên quan 7 Luan van điểm nhằm phát triển năng lực người học. Ngoài quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho sự phát triển các năng lực, HS còn học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, kỹ năng đã được lĩnh hội. Như vậy, quá trình học tập của HS không cô lập với cuộc sống hằng ngày mà được tiến hành trong mối quan hệ với các tình huống cụ thể HS sẽ gặp sau này, những tình huống có ý nghĩa, làm cho thế giới nhà trường hòa nhập với thế giới cuộc sống. Nhiều nước trên thế giới, đã xây dựng chương trình tích hợp ở nhiều cấp học, nhiều môn học khác nhau.
Đại diện là Australia, theo đó giáo dục phổ thông Australia được xác định rõ [8, tr.11], “Chương trình giáo dục tích hợp là hệ, trong hệ thống đó tầm quan trọng của việc phát triển và ứng dụng kỹ thuật được chú trọng; quá trình dạy học tích hợp này bao gồm việc dạy, học và kiểm tra – đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức cũng như ứng dụng của HS phổ thông”. Các nhà nghiên cứu đưa ra các tiêu chí quan trọng của dạy học tích hợp, bao gồm: việc học và nghiên cứu các môn học khác nhau, có thời khóa biểu linh động, giáo viên giảng dạy theo nhóm, quá trình học lấy học sinh làm trung tâm, có sự tương tác về trình độ giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh và giáo viên, và giữa giáo viên với nhau. Trong dạy học tích hợp, các nhà giáo dục học phân chia ra tích hợp dọc (vertical integration) và tích hợp ngang (horizontal integration): - Tích hợp dọc là loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau. - Tích hợp ngang là tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề.
Ngày nay, trên thế giới, người ta chấp nhận quan điểm phân chia dạy học tích hợp thành tích hợp dọc và tích hợp ngang trong giáo dục phổ thông từ nhà trẻ đến lớp 12. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, thời Pháp thuộc, quan điểm tích hợp được thể hiện trong một số môn ở trường tiểu học như môn “Cách trí”, sau đổi thành môn “Khoa học thường thức”. Môn học này còn được dạy một số năm ở trường cấp I của miền Bắc nước ta. Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn “Tìm hiểu Tự nhiên và xã hội” theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và môn học này được thiết kế để đưa vào dạy học ở trường cấp I từ lớp 1 đến lớp 5.
Chương trình năm 2000 đã được hoàn chỉnh thêm một bước, quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong chương trình, sách giáo khoa và các hoạt động dạy học ở tiểu học ở những mức độ khác nhau như: hình thành các môn tích hợp Tự nhiên – Xã hội, tích hợp Mỹ thuật với Kỹ thuật thành môn Nghệ thuật; tích hợp giữa phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ với phát triển nhân cách trong môn Tiếng Việt; tích hợp các nội dung giáo dục khác vào các môn học như giáo dục môi trường, giáo dục quyền trẻ em, giáo dục giới tính, giáo dục dân số; giáo dục các giá trị sống; phòng chống các bệnh tật và tệ nạn xã hội…Mục đích của giải pháp tích hợp trong tài liệu chương trình tiểu học là nhằm làm giảm sự nặng nề, gia tăng khả năng vận dụng thực hành và tính thực tiễn của chương trình, tạo điều kiện cho người học phát triển năng lực. Từ thập niên 90 của thế kỷ XX, vấn đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào trường học, chủ yếu ở bậc Tiểu học, cấp Trung học cơ sở và gần đây áp dụng vào trong việc thiết kế chương trình, lập kế hoạch và tổ chức đào tạo ở lĩnh vực chuyên nghiệp trong đó có lĩnh vực đào tạo nghề, thể hiện tại quyết định số 62/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 04/11/2008 của bộ trưởng - Thương binh và Xã hội. Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, quan điểm tiếp cận tích hợp đã ảnh hưởng tới giáo dục Việt Nam và bước đầu thể hiện một phần trong chương trình và sách giáo khoa các môn học, cấp học. Năm học 2013 – 2014 đến nay, Bộ giáo dục và đào tạo triển khai cuộc thi dạy học theo các chủ đề tích hợp dành cho giáo viên trung học, đã thu hút giáo viên ở các tỉnh thành trong cả nước tham gia dự thi và chia sẻ qua internet.
Tiếp đó, Hướng dẫn số 791/HD-BGDĐT ngày 25/6/2013 của 9 Luan van Bộ giáo dục và đào tạo triển khai thực hiện thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường, theo đó, các trường phổ thông được giao quyền tự chủ trong xây dựng và triển khai kế hoạch giáo dục dựa vào mục tiêu giáo dục quy định trong chương trình góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường. Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã nêu rõ: “thực hiện đổi mới chương trình SGK từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực học sinh”. Chương trình hướng tới mục tiêu phát triển năng lực không chỉ dựa vào tính hệ thống, logic của khoa học tương ứng khi xác định nội dung học tập mà còn gắn với các tình huống thực tiễn, chú ý đến khả năng học tập và nhu cầu, phong cách học của mỗi cá nhân học sinh. Các yêu cầu này đòi hỏi chương trình cần được phát triển theo định hướng tích hợp nhằm tạo điều kiện cho người học liên tục huy động kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực môn học và hoạt động giáo dục khác nhau để thực hiện các nhiệm vụ học tập.
Qua đó, các năng lực chung cơ bản cũng như năng lực chuyên biệt của người học được phát triển. Nhiều tài liệu khác nhau đã được Bộ giáo dục và đào tạo phát hành thông qua các buổi tập huấn, bồi dưỡng kiến thức giáo viên.