Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật. - Chương 2: Hiện trạng đào tạo sư phạm nghệ thuật ở Việt Nam. - Chương 3: Phương hướng và những giải pháp phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở nước ta. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO SƢ PHẠM NGHỆ THUẬT 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển đào tạo sƣ phạm nghệ thuật Phát triển giáo dục, đào ta ̣o luôn đi cùng với công tác quản lý. Trong đó, vấ n đề cải tiế n quản lý để nâng cao hiê ̣u q uả công tác đào tạo GV nghệ thuật là mô ̣t vấ n đề khá quen thuộc , nhưng lại luôn mang tính thời sự nóng hổi. Nhiề u công trình nghiên cứu ở Viê ̣t Nam cũng như trên thế giới đã bàn và đi sâu vấn đề này. Từ nhiều góc độ khác nhau, có thể tham khảo một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây về đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo GV nói chung và đào tạo GV nghệ thuật nói riêng: Trong cuốn "Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: Chiến lược phát triển” (2003, NXB Giáo dục, Hà Nội, [56]), tác giả Đặng Bá Lãm đã vẽ lên bức tranh tổng quát những vấn đề chung về xây dựng chiến lược phát triển giáo dục ở nước ta những năm đầu thế kỷ XXI, phân tích hiện trạng giáo dục Việt Nam, các chủ trương lớn cũng như những thành tựu và yếu kém của giáo dục thời kỳ Đổi mới.
Đặc biệt, về chiến lược phát triển giáo dục, tác giả đã có những phân tích sâu sắc về bối cảnh, thời cơ, thách thức đối với giáo dục Việt Nam trong vài thập kỷ tới, nêu ra viễn cảnh các mặt kinh tế, xã hội, khoa học, giáo dục của Việt Nam đến năm 2020, các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục, 7 giải pháp chiến lược phát triển giáo dục đi kèm với 12 chương trình hành động lớn trong giáo dục. Đặc biệt, dưới tiêu đề “Các mục tiêu ưu tiên”, tác giả đã nhấn mạnh nội dung “ chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng các tài năng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật”(56, tr. Trong phần “Các giải pháp chiến lược phát triển giáo dục”, tác giả đã nhấn mạnh nhu cầu “giáo dục toàn diện” [tr.221,264], nhiều chỗ đề cập đến việc giáo dục nghệ thuật cho học sinh [tr. Đặc biệt, về 7 z phương pháp đào tạo, tác giả đã nhấn mạnh cần thực hiện theo các ý tưởng, tư duy và cách làm mới, như “phát huy tính chủ động của người học, giúp người học hình thành năng lực thích ứng, hội nhập với thị trường lao động và thị trường việc làm”, “hình thành năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”, người tốt nghiệp đại học ở nước ta trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI phải có những năng lực trội về trí tuệ và hành động cũng như năng lực nghiên cứu, sáng tạo, hợp tác trong môi trường quốc tế [tr.
Cùng tác giả Đặng Bá Lãm (chủ biên), trong cuốn “Quản lý nhà nước về giáo dục - Lý luận và thực tiễn”,( NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, [58]), vấn đề đổi mới quản lý nhà nước đối với giáo dục đã được trình bày và phân tích khá đầy đủ và thấu đáo. Các tác giả đã đi từ cơ sở lý luận và phương pháp luận của vấn đề “quản lý nhà nước về giáo dục” để đánh giá thực trạng vấn đề trên ở nước ta mấy chục năm qua, đồng thời giới thiệu, phân tích các mô hình/xu thế và kinh nghiệm quốc tế về phát triển giáo dục và quản lý nhà nước về giáo dục của các nước. Đặc biệt, các tư tưởng hiện đại về quản lý và giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa thế kỷ XXI, trong điều kiện kinh tế thị trường, như “sản phẩm giáo dục vừa mang thuộc tính hình thái ý thức xã hội, vừa mang thuộc tính hàng hóa khi nó gia nhập vào thị trường lao động”, “ học tập suốt đời”, “xã hội học tập”, “mở rộng đầu vào, thắt chặt đầu ra” [tr. đã được các tác giả đề cập và kiến giải, giúp cho nhận thức của lãnh đạo và cán bộ làm công tác đào tạo có thêm nhiều căn cứ vững chắc, hữu ích cho sự nghiệp đổi mới giáo dục.
Đặng Bá Lãm và cộng sự Trịnh Thị Anh Hoa (2004), trong bài báo “Đào tạo giáo viên trong bối cảnh mới” [57], đã nêu lên phương hướng phát triển đào tạo giáo viên phục vụ đổi mới giáo dục nước ta. Tác giả Trần Khánh Đức, trong cuốn sách “ Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI”, ( NXB Giáo dục Việt Nam, 2010 [32]), đã giới thiệu và phân tích sâu sắc về triết lý và các mô hình giáo dục hiện đại, giáo dục trong nền kinh tế tri thức và dịch vụ giáo dục trong nền kinh tế thị 8 z trường; nhà trường trong các nền văn minh và những kịch bản nhà trường tương lai. Điểm nổi bật của cuốn sách là tác giả đã trình bày khá sâu về quản lý và phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN [tr. Các vấn đề về chiến lược giáo dục, khoa học luận và phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đã được tác giả phân tích kỹ ở chương 8 và chương 11.
Lĩnh vực đào tạo GV nghệ thuật đã được tác giả đề cập [tr.666,669] khi giới thiệu về nội dung đào tạo GV ở Nhật Bản. Trong công trình nghiên cứu “Quản lý giáo dục. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên). (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012 [63]), đã giới thiệu các mô hình nhà trường hiện đại, những cách nhận thức mới về khái niệm quản lý, người quản lý và lý thuyết quản lý giáo dục [tr.12-16], từ đó đề xuất “Cần có một chuyển biến quan trọng trong nhận thức về quản lý”.
Khi phân tích về lý thuyết quản lý giáo dục, tác giả cho rằng, để định nghĩa được quản lý giáo dục là gì, cần làm sáng tỏ ít nhất 3 thành tố: (i) Việc định danh quản lý giáo dục; (ii) Quá trình hình thành quản lý giáo dục; và (iii): Nội dung của quản lý giáo dục [tr. Qua việc tiếp cận và giới thiệu ý tưởng của “cây đại thụ về quản lý thời hiện đại” Peter Drucker (Mỹ), tác giả Đặng Quốc Bảo đã nêu rõ quan điểm về quản lý nhà trường nước ta trong bối cảnh phát triển hiện nay, cho rằng nhà trường không nên chỉ nghiêng về chú trọng một mặt “Nhân cách” hay “Sức lao động để tham gia vào thị trường”, mà nhà trường nước ta phải là “pháo đài giữ vững được lý tưởng XHCN, củng cố hình thái ý thức xã hội theo con đường XHCN”, lại phải là “nhân tố thúc đẩy sự năng động của kinh tế thị trường.đồng thời đảm bảo cho đất nước đi nhanh, đi sâu vào sự hội nhập mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc” [3, tr. Từ một cơ sở đào tạo GV, tác giả Nguyễn Thị Hồng Thư ở Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, đã có bài viết trao đổi trên Tạp chí Giáo dục (số 240, kì 2-6/2010) về “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng 9 z viên âm nhạc-mỹ thuật ở Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương giai đoạn 2010-2015” [71]. Tác giả nêu ra 5 giải pháp về (i) xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên; (ii) tăng cường bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ; (iii) xây dựng tiêu chuẩn giảng viên; (iv) xây dựng và hoàn thiện chế độ chính sách đối với giảng viên; (v) mở rộng hợp tác với các trường ĐH trong nước và nước ngoài; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các giảng viên, đặc biệt là các giảng viên trẻ, cần tự nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, tạo điều kiện để giao lưu, học tập kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật, phương pháp dạy học theo xu hướng “mở” của các nước tiên tiến trên thế giới; mời các giảng viên, nghệ sĩ có uy tín ở các trường, viện nghệ thuật tham gia giảng dạy một số chuyên ngành, để SV có thêm cơ hội tiếp cận với nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau; và điều quan trọng là, muốn thực hiện tốt nhiệm vụ và mục tiêu của nhà trường, các giải pháp đưa ra cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả”.
Trên bình diện quốc tế, vấn đề GD nghệ thuật đã được UNESCO hết sức quan tâm. Tổ chức Liên minh thế giới về GD nghệ thuật -WAAE, đã được thành lập từ tháng 3/2006 tại Bồ Đào Nha, với hơn 90 nước thành viên. Hội nghị thượng đỉnh của WAAE quy mô toàn cầu và khu vực, được tổ chức họp hàng năm để mở rộng diễn đàn cho các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, các nhà GD, kết nối và trao đổi về các chủ đề phát triển chính sách văn hóa nghệ thuật [102]. Hội nghị thượng đỉnh của WAAE gần đây nhất họp tại Ôxtrâylia tháng 11/2014, với chủ đề về đổi mới GD nghệ thuật.
Tháng 5/2010, hội nghị thượng đỉnh WAAE cũng đã họp tại Hàn Quốc- một quốc gia được coi là đi tiên phong về GD nghệ thuật ở châu Á. (xem thêm mục 1.4, kinh nghiệm Hàn Quốc, tr. Do những đặc điểm và yêu cầu khác nhau về chức năng và mục tiêu nghiên cứu, các công trình nghiên cứu nêu trên, vì vậy, chưa có điều kiện đi sâu và toàn diện về các loại hình ĐT đặc thù, như về ĐT sư phạm nghệ thuật. Một số thuật ngữ, khái niệm dùng trong đề tài Trong đề tài, chúng tôi sử dụng một số thuật ngữ, khái niệm.
Dưới đây là những định nghĩa có tính chất chung nhất, được nhiều người chấp nhận, với mức độ chính xác tương đối cho các khái niệm dùng trong đề tài. - Luận cứ khoa học: Trong quá trình giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra, nhà nước phải dựa trên những cơ sở lý luận (hệ thống khái niệm khoa học, các quy luật, các mối quan hệ tác động qua lại khách quan giữa các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.), cùng với việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, dự báo phát triển, để tìm ra các giải pháp, cách thức giải quyết vấn đề đặt ra phù hợp với các quy luật phát triển khách quan và nhu cầu thực tế. Quá trình trên chính là quá trình nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học để giải quyết một vấn đề.