phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương, 8 tiết. Chƣơng 1: Quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác phát triển Đảng trong thanh niên thời kỳ đổi mới và thực trạng công tác phát triển Đảng trong thanh niên của Đảng bộ thành phố Biên Hòa trước năm 2005. Chƣơng 2: Quá trình lãnh đạo công tác phát triển Đảng trong thanh niên của Đảng bộ thành phố Biên Hòa từ năm 2005 đến năm 2015. Chƣơng 3: Đánh giá chung, kinh nghiệm rút ra và một số khuyến nghị.
10 Chƣơng 1 QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG THANH NIÊN THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG THANH NIÊN CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TRƢỚC NĂM 2005 1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò, tầm quan trọng của công tác phát triển Đảng Hồ Chí Minh vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, Người đã bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam - đó là con đường cách mạng vô sản, tìm thấy nhân tố hàng đầu cốt yếu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam đó chính là Đảng Cộng sản. Chính vì vậy, trong suốt quá trình sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Người luôn quan tâm đến công tác xây dựng phát triển Đảng để Đảng tồn tại và phát triển vững mạnh xứng đáng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vấn đề phát triển đảng viên là một trong những vấn đề cơ bản của củng cố và xây dựng Đảng, bởi theo Người, người đảng viên có vị trí, vai trò rất quan trọng, đó chính là “tế bào” cơ bản tạo nên tổ chức, tạo nên sức mạnh của Đảng, là cầu nối liền giữa Đảng với quần chúng nhân dân.
Trong Bài nói tại lớp huấn luyện đảng viên mới, Người nói: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [53, tr.113]; “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc Đảng đều do đảng viên làm.
Mọi nghị quyết Đảng đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng 11 thực hiện. Vì vậy, Đảng cần phải làm cho thành phần đảng viên trong sạch, phải bồi dưỡng và hấp thụ vào Đảng những người tốt trong giai cấp lao động” [46, tr.281]; “Đảng viên là người thay mặt Đảng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động” [49, tr.
Từ việc nhấn mạnh tầm quan trọng của đội ngũ đảng viên, Hồ Chí Minh cho rằng Đảng Cộng sản muốn thực hiện được vai trò lãnh tụ, người thầy và người tổ chức giai cấp công nhân nếu Đảng tập hợp được trong hàng ngũ của mình những chiến sĩ ưu tú của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp lao động khác. Do đó, phát triển đảng viên là nhiệm vụ cơ bản thường xuyên, trọng yếu của Đảng. Người xem công tác phát triển đảng viên là nhân tố bảo đảm cho Đảng ngày càng vững mạnh: “Phải chú ý kết nạp vào Đảng, vào Đoàn những người xuất sắc trong sản xuất và chiến đấu. Phải làm cho Đảng và Đoàn lớn mạnh để hoàn thành tốt mọi mặt công tác” [53, tr.
Người nhấn mạnh: “Đảng viên tốt thì Đảng mới mạnh. Đảng mạnh thì mới làm tròn nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang” [50, tr. Từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng, giữ vững tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định Đảng có mạnh thì mới hoàn thành nhiệm vụ mà nhân dân và dân tộc giao phó, Đảng muốn mạnh thì phải có đội ngũ đảng viên mạnh, có phẩm chất, năng lực tốt. Muốn có đội ngũ đảng viên vững mạnh phải làm tốt CTPTĐ, bổ sung, kết nạp cho Đảng những quần chúng ưu tú nhất, đủ đức, đủ tài để gánh vác những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ.
Có thể khái quát quan điểm phát triển Đảng của Hồ Chí Minh thể hiện trên những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, phát triển đảng viên đi đôi với sàng lọc đội ngũ đảng viên là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Với quan điểm “Đảng cũng ở trong xã hội. Đảng là do nhiều người cách mạng họp lại” [49, tr. Như vậy, Đảng cũng giống như các tổ chức khác trong quá trình tồn tại và phát triển, Đảng phải thường xuyên phát triển đảng viên mới có chất lượng và kịp thời thanh loại những đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng.
12 Trong quá trình lãnh đạo chỉ đạo đấu tranh cách mạng, nhiều đảng viên đã anh dũng chiến đấu hy sinh, bị địch bắt bớ, cầm tù hoặc có đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu không giữ được tư cách đảng viên, phải đưa ra khỏi Đảng. Mặt khác, do yêu cầu cuộc đấu tranh, Đảng phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng đội ngũ Đảng viên vững mạnh đáp ứng nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng. Để xây dựng Đảng ngang tầm với nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng, Đảng phải thường xuyên bổ sung, xây dựng đội ngũ đảng viên có số lượng hợp lý, chất lượng cao. Công tác phát triển đảng viên phải tiến hành thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng, phải xem CTPTĐ là một công tác cẩn trọng, vững chắc; lựa chọn, kết nạp vào Đảng những người ưu tú nhất với phương châm không bỏ sót quần chúng ưu tú ngoài Đảng.
Cùng với việc kết nạp đảng viên mới, Hồ Chí Minh cũng lưu ý trong quá trình lãnh đạo của Đảng dù ở giai đoạn đấu tranh giành chính quyền hay khi đã lên cầm quyền, tất yếu sẽ có các phần tử phản động, cơ hội chui vào Đảng để phá hoại. Người nêu rõ: “Đối với những phần tử xấu chui vào Đảng, chi bộ phải điều tra nghiên cứu cẩn thận, cùng với chính quyền và quần chúng tẩy trừ họ ra” [47, tr. Đồng thời Hồ Chí Minh cũng hướng dẫn đối với những đảng viên xin ra khỏi Đảng: “Đối với những người không chịu nổi khó nhọc, không chịu nổi kỷ luật nghiêm khắc mà xin ra khỏi Đảng, thì Đảng vẫn bằng lòng để họ ra. Đảng chỉ yêu cầu một điều là: họ thề không lộ bí mật của Đảng, không phản Đảng, không phá hoại Đảng.
Như thế thì Đảng vẫn giữ cảm tình thân thiện với họ” [43, tr. Thứ hai, phát triển Đảng phải coi trọng chất lượng. Hồ Chí Minh luôn đề cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong CTPTĐ. Sức mạnh của Đảng là sức mạnh tổng hợp do nhiều yếu tố tạo nên.
Nó không chỉ phụ thuộc vào số lượng đảng viên, thành phần giai cấp của Đảng mà cái chính là ở chất lượng đảng viên. Số lượng đảng viên góp phần tăng cường và bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc của Đảng đối với xã hội. Đảng mạnh không phải chỉ do số lượng đảng viên quyết định. Số lượng đảng viên chỉ trở thành sức mạnh một khi nó đạt những yêu cầu về chất lượng.
Chất lượng đảng viên chính là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị, đạo đức 13 cách mạng và năng lực (đức và tài) được thể hiện rõ ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ. Muốn có chất lượng, đảng viên phải đáp ứng được các tiêu chí sau: 1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa tư tưởng sai lầm.
Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi ích riêng của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng.
Liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Luôn luôn cố gắng học tập; thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình. Đó là mấy tiêu chuẩn rất cần thiết để xứng đáng là người đảng viên [50, tr. Những tiêu chuẩn của người đảng viên Đảng Cộng sản mà Hồ Chí Minh nêu trên đã trở thành cơ sở, kim chỉ nam để Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên mới.
Khi vận dụng tiêu chuẩn của đảng viên để xem xét kết nạp đảng viên, Hồ Chí Minh luôn căn dặn các tổ chức đảng phải đặc biệt quan tâm đến sự giác ngộ, lòng trung thành, thái độ trách nhiệm đối với Đảng, với nhân dân của người xin vào Đảng, bởi: “nếu không quán triệt và thực hiện đúng đắn vấn đề có tính nguyên tắc đó, thì dù có kết nạp được nhiều đảng viên, dù có số lượng đảng viên tăng, vẫn không làm cho tổ chức đảng mạnh lên mà trái lại có khi còn làm cho tổ chức đảng trở nên lỏng lẻo, biến Đảng thành câu lạc bộ, không làm tròn vai trò người lãnh đạo” [49, tr. Chính vì vậy, khi phát triển đảng viên chúng ta phải nắm vững phương châm “trọng chất hơn trọng lượng”. Thứ ba, phát triển Đảng phải tiến hành một cách thận trọng, nghiêm túc. Hồ Chí Minh cho rằng phát triển Đảng phải được tiến hành một cách thận trọng, nghiêm túc, cần xem xét kỹ động cơ của người xin vào Đảng; lựa chọn đối tượng kết nạp vào Đảng phải dựa trên những tiêu chuẩn đảng viên.
Bởi vì: Đảng ta là một đảng cách mạng, một đảng vì dân, vì nước. Song Đảng có 14 rất đông đảng viên. Phần đông cố nhiên đã hiểu biết vì dân, vì nước mà vào Đảng. Nhưng cũng có phần vì lẽ khác mà vào Đảng.
Thí dụ: có người tưởng vào Đảng thì dễ tìm công ăn việc làm. Có người vào Đảng mong làm chức này, tước nọ. Có người vì anh em bạn hữu kéo vào, v.v… Những người này không biết rằng: cách mạng là một sự nghiệp gian nan cực khổ, phải có lòng kiên quyết, có chí hy sinh. Vì vậy khi gặp sự khó khăn, họ không khỏi dao động, hoang mang.
Dù sao, họ tin Đảng ta, họ kính trọng Đảng ta, họ tìm vào Đảng ta, đó cũng là một điều tốt [43, tr. Phát triển Đảng phải tiến hành thận trọng, nghiêm túc có nghĩa là khi tiến hành kết nạp đảng viên mới phải tuân thủ quy trình, nguyên tắc, thủ tục theo điều lệ Đảng quy định, quyết không được tùy tiện, cẩu thả, tách rời công việc thực tế.