Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, ngành công nghiệp giữ vai trò đầu tàu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thể hiện qua việc nâng tỷ trọng đóng góp trong GDP quốc gia từ mức 19,8% năm 1991 lên 22,8% năm 1995. Tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, thành phố Hải Phòng sở hữu vị trí chiến lược đặc biệt với hệ thống cảng biển hơn 100 năm phát triển, đóng vai trò cửa ngõ giao thương quốc tế của toàn miền Bắc. Tính đến năm 2004, giá trị sản xuất công nghiệp của Hải Phòng chiếm 4,57% quy mô công nghiệp toàn quốc, xếp thứ 6 trong số các tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và sức ép cạnh tranh từ khu vực mậu dịch tự do AFTA với lộ trình cắt giảm thuế quan CEPT, công nghiệp Hải Phòng đứng trước nhiều thách thức gay gắt về nguy cơ tụt hậu công nghệ, cơ cấu ngành chậm đổi mới và hiệu quả cạnh tranh chưa cao.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để giải phóng tối đa các nguồn lực nội tại và thu hút ngoại lực nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Hải Phòng theo hướng hiện đại, bền vững. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phân tích thực trạng phát triển công nghiệp Hải Phòng giai đoạn 1996 - 2004 trên các khía cạnh quy mô, tốc độ, cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và năng lực cạnh tranh; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng cùng các nhóm giải pháp chủ yếu cho giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn 2020.

Phạm vi không gian nghiên cứu được đặt tại địa bàn thành phố Hải Phòng trong mối liên kết vùng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; phạm vi thời gian tập trung vào chuỗi dữ liệu thực nghiệm từ năm 1996 đến năm 2004 cùng các dự báo phát triển đến năm 2010 - 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp luận cứ khoa học để hoạch định chiến lược thu hút tổng nhu cầu vốn đầu tư 85.000 tỷ đồng giai đoạn 2001 - 2010, phân bổ 3.900 ha quỹ đất công nghiệp cho 13 khu công nghiệp tập trung, và đào tạo lực lượng lao động công nghiệp đạt mức 180.000 đến 200.000 người vào năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Kinh tế chính trị Mác - Lênin kết hợp với các lý thuyết kinh tế học phát triển hiện đại. Khung phân tích vận dụng ba lý thuyết trụ cột:

Thứ nhất, Lý thuyết phân công lao động xã hội và tái sản xuất mở rộng của chủ nghĩa Mác, nhấn mạnh công nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Theo tính toán từ bảng I/O năm 1995, ngành công nghiệp cung cấp tới 50,77% giá trị đầu ra cho nhu cầu trung gian của các ngành kinh tế và chiếm gần 60% tổng nhu cầu đầu tư toàn xã hội.

Thứ hai, Lý thuyết lợi thế so sánh động và chuyên môn hóa sản xuất quốc tế, luận giải phương thức các nền kinh tế đi sau tận dụng vị thế cảng biển, tài nguyên khoáng sản để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba, Lý thuyết thất bại thị trường và vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước, làm rõ sự cần thiết của các chính sách công nghiệp nhằm khắc phục hiện tượng ngoại ứng tích cực, phi đối xứng thông tin và độc quyền nhóm.

Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Giá trị gia tăng công nghiệp (Industrial Value Added), Cơ cấu ngành công nghiệp (Industrial Sectoral Structure), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Economic Structural Transformation), và Năng lực cạnh tranh công nghiệp (Industrial Competitiveness).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa từ Tổng cục Thống kê, Báo cáo chuyên đề hàng năm của Bộ Công nghiệp, Sở Công nghiệp Hải Phòng, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng trong giai đoạn 1996 - 2004, kết hợp với các chỉ tiêu định hướng trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố đến năm 2010 và 2020.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (stratified purposive sampling) được áp dụng trên tổng thể hơn 120 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp then chốt, bao quát toàn diện 4 thành phần kinh tế: Quốc doanh Trung ương (chiếm 2,31% công nghiệp quốc gia cùng kỳ), Quốc doanh địa phương (chiếm 5,88%), Ngoài quốc doanh (chiếm 4,27%) và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI (chiếm 5,92%). Cỡ mẫu khảo sát chuyên sâu tập trung vào 6 nhóm ngành công nghiệp mũi nhọn: luyện kim, vật liệu xây dựng, đóng tàu, cơ khí chế tạo, điện tử - truyền thông, và chế biến thực phẩm - may mặc xuất khẩu. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho bức tranh công nghiệp thành phố, phản ánh chính xác đặc thù của từng thành phần sở hữu và mức độ thích ứng công nghệ.

Các phương pháp phân tích cụ thể bao gồm: Phương pháp phân tích - tổng hợp; Phương pháp thống kê so sánh chuỗi thời gian giai đoạn 1996 - 2004; và Phương pháp phân tích cân đối liên ngành (Input - Output Analysis). Việc kết hợp các phương pháp này cho phép đánh giá định lượng chính xác tốc độ tăng trưởng bình quân, tỷ trọng đóng góp của từng khu vực kinh tế, cũng như lượng hóa mức độ tiêu hao nguyên vật liệu và hệ số tạo việc làm của ngành công nghiệp thành phố.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm giai đoạn 1996 - 2004 đã làm sáng tỏ 4 phát hiện cốt lõi về thực trạng công nghiệp Hải Phòng:

Thứ nhất, quy mô và tốc độ tăng trưởng công nghiệp duy trì ở mức rất cao nhưng có sự phân hóa mạnh giữa các giai đoạn. Giai đoạn 1996 - 2000, giá trị sản xuất công nghiệp toàn thành phố tăng trưởng bình quân 23,45%/năm; giai đoạn 2001 - 2004 đạt tốc độ bình quân 19,85%/năm. Động lực tăng trưởng đột phá thuộc về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với mức tăng bình quân 64,52%/năm giai đoạn 1996 - 2000, nâng giá trị đóng góp lên gấp 11 lần và chiếm 50% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn thành phố.

Thứ hai, ngành sản xuất kim loại và vật liệu xây dựng vươn lên thành hai trụ cột công nghiệp hàng đầu. Sản xuất kim loại tăng trưởng vượt bậc 47,2%/năm từ mức 321 tỷ đồng năm 1996 lên 1.538 tỷ đồng năm 2004, chiếm 21,3% giá trị công nghiệp thành phố, trong đó khối FDI chi phối tới 90% sản lượng. Ngành sản xuất vật liệu xây dựng tăng bình quân 27,5%/năm, đạt 4.688 tỷ đồng năm 2004, chiếm 22,1% giá trị công nghiệp Hải Phòng; riêng sản lượng xi măng đạt 1,697 triệu tấn, đóng góp tới 21,6% sản lượng xi măng toàn quốc.

Thứ ba, các ngành cơ khí, đóng tàu và công nghệ cao tăng trưởng chậm hoặc suy giảm tỷ trọng. Ngành đóng tàu biển dù có bề dày truyền thống chỉ tăng trưởng 9,6%/năm, đạt giá trị 310 tỷ đồng năm 2004, chỉ chiếm 2,4% cơ cấu công nghiệp thành phố. Đáng chú ý, ngành điện tử - truyền thông lâm vào tình trạng suy thoái khi tỷ trọng sụt giảm nghiêm trọng từ 2,4% năm 1996 xuống chỉ còn 1,1% năm 2004 với giá trị sản xuất thiết bị đạt vỏn vẹn 307,4 tỷ đồng.

Thứ tư, hiệu quả hoạt động ngoại thương công nghiệp còn thấp và nặng tính gia công. Mặc dù hàng công nghiệp chiếm 70% đến 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Hải Phòng, nhưng toàn bộ kim ngạch xuất khẩu của thành phố chỉ chiếm khoảng 2,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Các mặt hàng chủ lực như giày dép, may mặc, thủy sản chủ yếu sản xuất theo phương thức gia công cho đối tác nước ngoài, hàm lượng giá trị gia tăng nội địa thu về rất hạn chế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự phát triển thiếu đồng đều bắt nguồn từ cơ chế phân bổ vốn và mức độ đổi mới công nghệ. Khu vực FDI chiếm ưu thế tuyệt đối ở ngành thép và vật liệu nhờ tiềm lực vốn và thiết bị hiện đại, nhưng mối liên kết ngược với công nghiệp phụ trợ trong nước gần như không đáng kể. Việc ngành thép phụ thuộc 100% vào phôi nhập khẩu khiến năng lực tự chủ bị hạn chế. Trong khi đó, các doanh nghiệp cơ khí và đóng tàu quốc doanh chịu gánh nặng thiết bị lạc hậu từ 20 đến 50 năm, thiếu vốn đầu tư chiều sâu và chưa thiết lập được quan hệ liên doanh quốc tế hiệu quả.

So sánh với các nghiên cứu kinh tế công bố năm 2002 về vai trò của nguồn vốn FDI tại Hải Phòng, luận văn đã bổ sung góc nhìn phản biện quan trọng: Tăng trưởng công nghiệp nhanh nhưng chưa bền vững do phụ thuộc quá lớn vào các phân ngành thâm dụng vốn và gia công thô. Dữ liệu thực nghiệm có thể được hệ thống hóa trực quan qua biểu đồ cột kép thể hiện tốc độ tăng trưởng đối chiếu giữa khu vực FDI (64,52%) với khu vực ngoài quốc doanh (32,77%), kết hợp với bảng ma trận chuyển dịch cơ cấu nội ngành giai đoạn 1996 - 2004. Mô hình trực quan này minh chứng rõ nét rằng công nghiệp thành phố đang thiếu vắng các sản phẩm công nghệ cao có giá trị gia tăng lớn, đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc toàn diện.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đẩy nhanh tiến trình phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của công nghiệp Hải Phòng đến năm 2010 và định hướng 2020, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động đồng bộ:

Thứ nhất, tái cơ cấu danh mục ngành công nghiệp chủ đạo và sản phẩm mũi nhọn. Ưu tiên tập trung nguồn lực phát triển ngành đóng mới, sửa chữa tàu biển và cơ khí chế tạo phục vụ kinh tế biển, phấn đấu nâng tốc độ tăng trưởng ngành cơ khí lên trên 15%/năm để đạt tỷ trọng 10% giá trị công nghiệp thành phố vào năm 2010. Sở Công nghiệp Hải Phòng chủ trì phối hợp với các Tổng công ty cơ khí Trung ương triển khai lộ trình hiện đại hóa công nghệ đóng tàu vỏ thép tải trọng lớn từ năm 2005 đến năm 2010.

Thứ hai, mở rộng và hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng 13 khu công nghiệp tập trung. Đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng để nâng tổng diện tích đất công nghiệp từ 914 ha hiện có lên 1.400 ha vào năm 2010 và đạt 2.400 ha vào năm 2020, trong đó tập trung mở rộng Khu công nghiệp Đình Vũ đạt quy mô 639 ha và Nomura đạt 153 ha. Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng phối hợp cùng Ủy ban nhân dân thành phố điều hành thực hiện giai đoạn 2005 - 2015, kết hợp kế hoạch di dời triệt để các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi nội thành.

Thứ ba, đa dạng hóa các giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển. Tổ chức thực thi phương án huy động 85.000 tỷ đồng vốn đầu tư giai đoạn 2001 - 2010; trong đó bảo đảm nguồn vốn nội địa đạt tỷ lệ 70% tương đương 60.000 tỷ đồng (gồm 5.500 tỷ đồng ngân sách, 4.600 tỷ đồng vốn doanh nghiệp và trên 10.000 tỷ đồng từ dân cư), đồng thời thu hút vốn FDI đạt 29,5% tương đương 25.000 tỷ đồng. Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng chịu trách nhiệm điều phối danh mục dự án kêu gọi đầu tư theo từng năm tài khóa.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuyển giao công nghệ mới. Mở rộng quy mô đào tạo để nâng lực lượng lao động công nghiệp từ 145.000 người năm 2004 lên 180.000 - 200.000 người vào năm 2010, đồng thời nâng tỷ lệ lao động kỹ thuật qua đào tạo từ 25,33% lên 35% - 40%. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hải Phòng phối hợp cùng 4 trường đại học và 9 trường đào tạo kỹ thuật trên địa bàn triển khai chương trình liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp từ năm 2005.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách địa phương (Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Sở Công nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường). Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực chứng và cơ sở lý luận để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp 5 năm và 10 năm, đồng thời là tài liệu tham khảo trực tiếp cho đề án di dời các nhà máy cũ xen kẽ trong khu dân cư ra các khu công nghiệp tập trung.

Thứ hai, Ban quản lý các khu kinh tế, khu công nghiệp và các nhà phát triển hạ tầng đô thị. Nhóm đối tượng này có thể khai thác bảng cân đối quỹ đất chi tiết 3.900 ha và định hướng quy hoạch 13 khu công nghiệp (như Đình Vũ, Bến Rừng, Tràng Kênh) để lập phương án đầu tư hệ thống xử lý chất thải, cấp điện 28 - 30 tỷ kWh và cấp nước công nghiệp đồng bộ.

Thứ ba, lãnh đạo các doanh nghiệp sản xuất ngành cơ khí, đóng tàu, sản xuất thép và vật liệu xây dựng. Báo cáo phân tích giúp doanh nghiệp nắm bắt xu hướng dịch chuyển thị trường xuất khẩu, đánh giá tác động của lộ trình cắt giảm thuế CEPT/AFTA, từ đó chủ động xây dựng chiến lược đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm thay thế nhập khẩu.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế và Kinh tế phát triển. Luận văn đóng vai trò là một case study điển hình về phương pháp phân tích cơ cấu kinh tế địa phương, ứng dụng mô hình kinh tế chính trị vào thực tiễn phát triển công nghiệp cấp tỉnh/thành phố.

Câu hỏi thường gặp

Vị thế của công nghiệp Hải Phòng so với cả nước trong giai đoạn 1996 - 2004 được xác định như thế nào? Theo số liệu thống kê của Bộ Công nghiệp, năm 2004 công nghiệp Hải Phòng đóng góp 4,57% tổng giá trị sản xuất toàn quốc, xếp thứ 6 cả nước sau các trung tâm lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu và Đồng Nai; đồng thời giữ vị trí thứ hai tại vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc.

Những ngành công nghiệp nào giữ vai trò động lực tăng trưởng hàng đầu của thành phố giai đoạn này? Ngành sản xuất kim loại và vật liệu xây dựng dẫn đầu về tốc độ và quy mô. Sản xuất kim loại tăng trưởng 47,2%/năm, đạt giá trị 1.538 tỷ đồng năm 2004; ngành sản xuất vật liệu xây dựng tăng trưởng 27,5%/năm, đạt giá trị 4.688 tỷ đồng năm 2004, cung ứng 21,6% sản lượng xi măng cả nước với 1,697 triệu tấn.

Tại sao ngành công nghiệp đóng tàu Hải Phòng chưa phát huy hết tiềm năng tương xứng? Giai đoạn 1996 - 2004, ngành đóng tàu chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 9,6%/năm và chiếm 2,4% công nghiệp thành phố (đạt 310 tỷ đồng năm 2004). Nguyên nhân chính là do thiếu hụt nguồn vốn lớn để hiện đại hóa đồng bộ thiết bị, chưa thu hút được liên doanh quốc tế và công nghệ phụ trợ trong nước còn lạc hậu.

Nhu cầu và cơ cấu huy động vốn đầu tư phát triển công nghiệp Hải Phòng giai đoạn 2001 - 2010 được dự báo ra sao? Tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn giai đoạn ước tính khoảng 85.000 tỷ đồng. Cơ cấu huy động xác định nội lực là quyết định với 70% tổng vốn (khoảng 60.000 tỷ đồng gồm ngân sách, doanh nghiệp và dân cư), trong khi nguồn vốn nước ngoài chiếm 29,5% (khoảng 25.000 tỷ đồng) giữ vai trò then chốt tạo đột phá công nghệ.

Phương án quy hoạch quỹ đất phát triển các khu công nghiệp tập trung của Hải Phòng đến năm 2020 được phân bổ như thế nào? Thành phố quy hoạch 13 khu công nghiệp tập trung với diện tích tăng từ 914 ha năm 2000 lên 1.400 ha năm 2010 và đạt 2.400 ha năm 2020. Tổng quỹ đất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp toàn thành phố cần bổ sung đạt 3.900 ha, trong đó tận dụng 1.200 ha bãi bồi ven sông và chuyển đổi 1.800 ha đất nông nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định công nghiệp Hải Phòng đã đạt bước tiến vượt bậc với tốc độ tăng trưởng bình quân 23,45%/năm giai đoạn 1996 - 2000 và 19,85%/năm giai đoạn 2001 - 2004, củng cố vững chắc vị thế trung tâm công nghiệp lớn thứ hai miền Bắc.
  • Cơ cấu thành phần kinh tế dịch chuyển tích cực theo hướng kinh tế thị trường mở cửa, trong đó khu vực FDI trở thành động lực bứt phá với mức tăng trưởng 64,52%/năm, chiếm lĩnh 50% giá trị sản xuất toàn ngành.
  • Hệ thống nghiên cứu đã chỉ rõ các điểm nghẽn then chốt về công nghệ lạc hậu từ 20 đến 50 năm, sự suy thoái của ngành điện tử chỉ còn chiếm 1,1% tỷ trọng và mức độ gia công xuất khẩu cao chiếm 70% đến 80% kim ngạch.
  • Đề tài đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện bao quát 4 trụ cột: tái cơ cấu ngành mũi nhọn (đóng tàu, luyện kim), quy hoạch 3.900 ha đất công nghiệp, huy động 85.000 tỷ đồng vốn đầu tư và đào tạo 200.000 lao động công nghiệp đến năm 2010.
  • Lộ trình triển khai các nhóm giải pháp được hoạch định xuyên suốt từ giai đoạn 2005 - 2010 và mở rộng đến 2020, tạo cơ sở thực tiễn vững chắc cho các nhà quản lý và giới học thuật tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng vào chiến lược phát triển công nghiệp địa phương. Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm có thể khai thác chi tiết toàn bộ hệ thống dữ liệu và luận cứ khoa học từ toàn văn công trình nghiên cứu này.